CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN MỘT SỐ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của CNHT cho ngành công nghiệp ô tô 1. Khái niệm CNHT cho ngành công nghiệp ô tô Thuật ngữ CNHT xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thập niên 1980 và sau đó xuất hiện rộng rãi ở nhiều nước, nhất là các quốc gia công nghiệp hóa mới ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan. Nhìn chung, CNHT thường được định nghĩa theo phạm vi, và khác nhau tùy theo quan điểm, mục đích sử dụng và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Một số nhà nghiên cứu như Ohno (2007), Hà Thị Hương Lan (2014) đã tổng hợp khá nhiều các định nghĩa về CNHT, bao gồm định nghĩa đầu tiên được đưa ra bởi MITI Nhật Bản (1985) khi nói đến các DNNVV sản xuất các loại trang thiết bị, linh phụ kiện; định nghĩa được thừa nhận hiện nay ở Nhật Bản là “một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn”; ở Mỹ là “các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng”; ở các quốc gia châu Âu là “các ngành cung ứng”; ở Thái Lan là “những nhà sản xuất linh phụ kiện cho ô tô và điện - điện tử như gia công kim loại, ép nhựa, khuôn mẫu, đúc, thử nghiệm, v.v…” (Bộ Công nghiệp Thái Lan – MOI) hay “các ngành cung cấp các linh phụ kiện, máy móc, thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm, v. cho các ngành công nghiệp cơ bản” (Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan). Từ việc khái quát, hệ thống lại các định nghĩa về CNHT, Ohno (2007) cho rằng cách định nghĩa cũng có thể hiểu CNHT bao gồm những ngành sản xuất sản phẩm trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định và CNHT không phải là một ngành kinh tế cụ thể mà nó bao phủ toàn bộ các lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp 10 ráp. CNHT được định nghĩa như vậy dựa trên mức độ phức tạp của các công đoạn sản xuất chính gồm chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng linh kiện, và lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm tiêu dùng cuối cùng.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” xuất hiện vào năm 2003 trong bản ký kết “Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản” giai đoạn I (2003 - 2005). Sau đó, thuật ngữ CNHT xuất hiện trong một số văn bản điều hành của Chính phủ nhưng định nghĩa về CNHT vẫn chưa được làm rõ. Đến năm 2007, trong “Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) định nghĩa CNHT là “hệ thống các cơ sở sản xuất và công nghệ sản xuất các sản phẩm đầu vào là nguyên vật liệu, linh phụ kiện, phụ tùng, v. phục vụ cho khâu lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng” (Bộ Công thương, 2007).
Hiện nay, định nghĩa CNHT ở Việt Nam được sử dụng theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, CNHT được định nghĩa là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Với cách hiểu CNHT ở Việt Nam hiện nay thì CNHT cho ngành công nghiệp ô tô được hiểu là hệ thống các cơ sở sản xuất và công nghệ sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp ô tô. Ô tô là một sản phẩm thông dụng của xã hội hiện đại, đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người là đi lại và vận tải hàng hóa, có cấu tạo khá phức tạp.
Để sản xuất một chiếc ô tô cần hàng chục nghìn loại chi tiết, linh kiện khác nhau. Theo các chuyên gia kỹ thuật các loại chi tiết linh kiện của ô tô lên tới từ 20.000 và có thể sẽ tiếp tục tăng lên cùng với những tiến bộ khoa học công nghệ mới. Vì vậy, khi đề cập và thảo luận về chủ đề CNHT cho ngành công nghiệp ô tô có một số điểm cần chú ý sau: Thứ nhất, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô bao gồm một tập hợp các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau chuyên sản xuất các chi tiết, linh kiện và các hoạt động dịch vụ nhằm cung cấp những yếu tố đầu vào trung gian cho quá 11 trình sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng là chiếc ô tô. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp thuộc CNHT cho ngành công nghiệp ô tô có thể là các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau trong nền kinh tế như cơ khí, hóa chất, nhựa, điện- điện tử v.
Thứ hai, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô nói đến toàn bộ năng lực của các cơ sở sản xuất cung cấp linh kiện và dịch vụ cho ngành công nghiệp ô tô tuy nhiên trong thực tế rất khó để tách biệt hẳn CNHT cho ngành công nghiệp ô tô với CNHT cho các ngành công nghiệp khác bởi có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất các loại chi tiết, linh kiện, phụ tùng cung cấp cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau mà công nghiệp ô tô chỉ là một trong số các ngành đó. Thứ ba, với một quốc gia, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô bao gồm các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất và cung cấp chi tiết, linh kiện cho ngành công nghiệp ô tô. Thực tế này cho thấy, phát triển CNHT cho ngành công nghiệp ô tô phải được dựa trên quan điểm khai thác nguồn lực đa dạng, cả các nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ cho ngành công nghiệp ô tô Ngoài những điểm chung của CNHT, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô có những đặc điểm riêng biệt.
Thứ nhất, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô vừa mang tính cơ bản vừa mang tính hiện đại và đa dạng Mặc dù từ khi xuất hiện cho đến nay cấu trúc của ô tô đã có nhiều thay đổi nhưng trong thành phần cấu tạo nên chiếc ô tô bên cạnh những chi tiết, linh kiện cơ bản thì ngày càng có nhiều những chi tiết mới đại diện cho công nghệ hiện đại như công nghệ điện tử, công nghệ kỹ thuật số, v. Tính phức tạp trong cấu trúc của ô tô về các chi tiết, linh kiện, phụ tùng cùng với những đòi hỏi ngày càng nhiều các chi tiết, linh kiện có hàm lượng công nghệ cao cũng đặt ra yêu cầu đối với CNHT cho ngành công nghiệp ô tô, đặc biệt là đảm bảo tính đa dạng, vừa phải có những ngành cơ bản, vừa phải có những ngành mang tính hiện đại. 12 Thứ hai, CNHT cho ngành công nghiệp ô tô có tính đa cấp Cũng từ đặc điểm thành phần cấu tạo của ô tô gồm rất nhiều các chi tiết, linh kiện khác nhau và hiện nay hầu như không một hãng ô tô nào sản xuất tất cả các chi tiết, linh kiện cần thiết để lắp ráp thành chiếc ô tô hoàn chỉnh mà những bộ phận cấu thành đó được sản xuất bởi nhiều doanh nghiệp khác nhau. Đó chính là những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực CNHT cho ngành công nghiệp ô tô.
Các doanh nghiệp tham gia CNHT cho ngành công nghiệp ô tô nằm ở các vị trí khác nhau trong toàn bộ chuỗi sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh. Thông thường đứng đầu trong chuỗi là các công ty lắp ráp ô tô với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường. Đó thường là các hãng ô tô lớn trên thế giới đóng vai trò là doanh nghiệp đầu tầu tập trung bên dưới nó là rất nhiều doanh nghiệp CNHT. Cấp tiếp theo là những doanh nghiệp CNHT cho ngành công nghiệp ô tô được công ty lắp ráp bảo trợ và cung cấp tất cả những yêu cầu cơ bản nhất để tạo ra những chi tiết đặc trưng nhất cho sản phẩm lắp ráp.
Tầng này hiện nay chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp lớn ở các cường quốc sản xuất ô tô chuyên sản xuất những chi tiết, linh kiện đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, hoặc tinh vi chính xác. Các cấp còn lại bao gồm các doanh nghiệp CNHT sản xuất chi tiết, linh kiện bán trên thị trường hoặc tham gia trong hợp đồng cung cấp dài hạn cho các doanh nghiệp ở cấp cao hơn. Nói chung, trong các chuỗi sản xuất ô tô, càng ở các cấp dưới thì quy mô sản xuất của các doanh nghiệp càng nhỏ, sản xuất mang tính chuyên môn hóa càng cao, chủng loại sản phẩm ít, thường đi sâu vào một hoặc số chi tiết linh kiện nhất định. Thứ ba, tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp ô tô.
Để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh là ô tô, quá trình sản xuất trải qua nhiều công đoạn trong một chuỗi các hoạt động từ sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu đầu vào đến các hoạt động sản xuất các sản phẩm trung gian và cuối cùng là lắp ráp sản phẩm. Trong đó mỗi công đoạn đều tạo ra giá trị gia tăng nhưng có mức độ đóng góp giá trị gia tăng khác nhau vào giá trị của sản phẩm đó. Mỗi doanh nghiệp 13 CNHT cho ngành công nghiệp ô tô tham gia vào một hoặc một vài khâu của quá trình sản xuất đó nằm trong sự liên kết chặt chẽ theo quá trình sản xuất thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối. Nằm trong chuỗi giá trị hoặc mạng sản xuất các doanh nghiệp CNHT có mối quan hệ liên kết theo quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra.
Mỗi doanh nghiệp là một mắt xích trong chuỗi sản xuất cung ứng tiêu thụ hoặc một vị trí nhất định trong mạng sản xuất sản phẩm ô tô. Trong mạng sản xuất ô tô đó các doanh nghiệp CNHT mua các chi tiết, linh kiện tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp và ngược lại sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp tạo môi trường thuận lợi và đem lại lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp CNHT và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển.