Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐÊ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của cây chè 1. Nguồn gốc Nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của cây chè, dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là: - Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam - Trung Quốc: Nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là ở Vân Nam - Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm.
Theo các tài liệu của Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó để uống. Theo Daraselia (Gruzia) năm 1989 thì các nhà khoa học Trung Quốc như Schenpen, Jaiding,. đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các con sông lớn đổ về những con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Đầu tiên cây chè được mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển theo dòng nước đến các nước nói trên và sau đó lan dần ra các nơi khác [3].
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam năm 1823, R.Bruse đã phát hiện những cây chè dại lá to ở vùng Atxam, từ đó các tác giả người Anh cho rằng: nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc [7]. - Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của Đjemukhatze về phức catechin của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè, trên cơ sở đó xác định nguồn gốc của cây chè. Đjemukhatze kết luận rằng những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa, tổng hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat. Ở chúng khả năng tổng hợp (-) - epigalocatechin và các galat của nó để tạo (+) galocatechin chậm hơn.
Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng chủ yếu là tổng hợp (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat. Từ những biến đổi sinh hóa này của lá cây chè dại và cây chè được trồng trọt, chăm sóc cho phép đi tới một kết luận mới là nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam. n 5 Tuy có sự khác nhau từ những quan điểm trên nhưng đều có sự thống nhất rằng cây chè có nguồn gốc từ châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng, ẩm [4]. Phân loại Tên cây chè do Line xác định năm 1873 đã trải qua nhiều tranh luận, cuối cùng đã thống nhất tên khoa học của cây chè là Camellia sinensis (L) O.
Kuntze và nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau đây: Ngành Hạt kín Angiospermae Lớp Song tử điệp Dicotyledonae Bộ Chè Theales Họ Chè Theaceae Chi Chè Camellia (thea) Loài Camellia Sinensis Có nhiều bảng phân loại chè nhưng bảng phân loại được nhiều người công nhận nhất là bảng của Conhen Stuart đã chia Camellia sinensis L. Làm 4 thứ chè chính: + Chè Trung Quốc lá nhỏ: phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản. Ở Việt Nam loại chè này có thể tìm thấy ở Lạng Sơn, Phú Thọ. + Chè Trung Quốc lá to: nguyên sản loại chè này ở Vân Nam, Tứ Xuyên.
Ở Việt Nam, chè này được phân bố nhiều ở vùng trung du: Phú Thọ,Thái Nguyên, Bắc Giang,. Do được trồng nhiều ở trung du nên chè này còn có tên gọi là chè Trung Du. + Chè Shan: Nguyên sản của loại chè này bắt nguồn ở Vân Nam - Trung Quốc, Mianma. Ở nước ta, chè Shan được trồng nhiều ở vùng Tây Bắc, vùng Tây nguyên với các giống khác nhau như Shan Mộc Châu, Shan Tham vè,.
đều cho năng xuất khá, từ 7 - 8 tấn/ha. + Chè Ấn Độ: được trồng nhiều ở Ấn Độ, Myanmar. Ở nước ta, loại chè này được trồng nhiều ở Nam Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên với giống chè chủ yếu là PH1 [7]. Vai trò của cây chè đối với đời sống con người Từ xưa đến nay, cây chè đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với người dân trồng chè nói riêng và tất cả mọi người trên thế giới nói chung.
Trước hết, chè là một trong những loại thức uống quen thuộc đối với mọi người ở khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là đối với người Á Đông. Chè được xem như là thức uống mang tính toàn cầu, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ - kĩ thuật đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh được lợi ích của cây chè [6]. Bên cạnh chức năng giải khát thông thường, chè có tác dụng sinh lý rõ rệt đối với sức khỏe của con người, được dùng để phòng trị và chữa nhiều loại bệnh khác nhau. Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định: Cafein và một số hợp chất Ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc và giảm bớt mệt nhọc sau những ngày làm việc căng thẳng.
Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ. Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm.
Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước chè, vì vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè. Các tác giả Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuột bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được từ cơ thể 90% chất đồng vị phóng xạ Sr - 90 [1]. Cây chè đã đi vào đời sống của con người một cách sâu sắc. Mọi người có thói quen uống trà để thể hiện nét văn hóa của vùng miền hay quốc gia nào đó, phong cách của mỗi người, góp phần tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và thoải mái.
Uống trà trở thành phong tục tập quán, một sở thích lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới. Vì thế, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, uống trà được coi như một nền văn hóa ẩm thực đậm đà bản sắc dân tộc. n 7 Bên cạnh giá trị về mặt tinh thần, cây chè còn có giá trị kinh tế to lớn. Chè vốn là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm và có hiệu quả kinh tế cao.
Chè trồng một lần có thể cho thu hoạch trong 30 - 40 năm. Chính vì chè có tác dụng tốt cho sức khỏe của con người nên nó ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, làm cho những người dân trồng, chế biến và kinh doanh chè có nguồn thu nhập đáng kể, giải quyết việc làm và góp phần nâng cao đời sống người dân. Như ở các vùng trồng chè của nước ta, cây chè đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho người dân, hiện có khoảng 6 triệu người dân có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè, nó đang được phát triển rộng rãi ra các vùng miền khác. Phát triển cây chè cần một lượng lao động lớn, do vậy trồng chè thu hút và điều hòa lao động [4].
Hiện nay, chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới mang lại nguồn thu nhập lớn. Ngoài ra, nhu cầu về chè của các vùng miền trên thế giới ngày càng cao. Vì vậy, phát triển sản xuất và tiêu thụ chè góp phần đáng kể cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trồng chè, đặc biệt là đồng bào trung du và miền núi. Chè là cây trồng không tranh chấp về đất đai với các cây lương thực, có khả năng sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của đất đồi núi vì thế trồng chè thâm canh, có tác dụng che phủ rộng, phủ xanh những vùng đất nghèo nàn, bị bỏ trống và khai phá, bảo vệ đất và góp phần tạo nên môi trường xanh đẹp.
Như vậy, cây chè có tiềm năng khai thác trên những vùng đất đai rộng lớn, nhất là ở các vùng miền núi. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, người dân có kinh nghiệm và nguồn lao dộng dồi dào. Do đó có tiềm năng sản xuất và kinh doanh chè rất lớn. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh chè Cũng như bất cứ một loại cây trồng nào, trong quá trình sản xuất và kinh doanh chè, tính từ lúc chè được trồng cho đến khi được bán ra thị trường và đến tay người tiêu dùng thì chè chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.
Các yếu tố này có thể tác động riêng lẻ hoặc tổng hợp, cả tích cực và tiêu cực lên các hoạt động sản xuất, kinh doanh đó. Nhóm điều kiện sinh thái Chè là cây chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện sinh thái, nguyên sản của cây chè là ở vùng khí hậu nhiệt đới. Nghiên cứu điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến các điều kiện sống thích hợp nhất về các mặt như khí hậu, đất đai,. của cây chè.
Nắm vững những yêu cầu sinh thái của cây chè thì sẽ giúp cho nó sinh trưởng và phát triển tốt. Sau đây ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu: a. Đất đai và địa hình So với một số cây công nghiệp dài ngày khác thì chè là cây không yêu cầu khắt khe lắm về đất. Tuy nhiên để cây chè sinh trưởng tốt, nương chè có nhiệm kỳ kinh tế lâu dài, có khả năng cho năng xuất cao và ổn định thì chè phải được trồng ở những nơi đất tốt.
Những nghiên cứu, so sánh và phân tích đất ở các vùng chè khác nhau trên thế giới cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầu đất tốt, có phản ứng chua, nhiều mùn, thoát nước và có độ dốc thoải [2].