MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi bò nói riêng là một bộ phận chính trong hệ thống canh nông của người nông dân. Nó có vai trò thiết thực trong các hộ gia đình và đem lại một nguồn thu nhập bằng tiền đáng kể cho rất nhiều người. Nếu phát triển nghề này sẽ cơ bản giúp người dân tăng thu nhập nhanh, khắc phục cơ bản sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên một cách nặng nề, đặc biệt các xã vùng cao miền núi, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao nói riêng, góp phần tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, chăn nuôi bò nước ta hiện nay chưa đạt mức chăn nuôi tiên tiến, quy mô lớn, mang tính sản xuất hàng hoá cao, đặc biệt ở các huyện vùng cao. Bên cạnh đó, một trong những trở ngại lớn đối với hoạt động phát triển sản xuất sản phẩm này nữa là mối quan ngại của người dân khâu tiêu thụ sản phẩm. Xã Lương Thông là một xã miền núi của huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, có diện tích tự nhiên là 69,76 km2, trong đó có một diện tích đáng kể để chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia súc. Điều kiện khí hậu tương đối phù hợp với việc phát triển các giống vật nuôi.
Đây là điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để xã phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá. Bên cạnh đó, điều kiện xã hội có một thế mạnh lớn về nhân lực giá nhân công rẻ, người dân có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi. Mặc dù có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, điều kiện sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là người dân ở các xã vùng cao. Một trong những khó khăn lớn của người dân là lựa chọn sản phẩm sản xuất, tìm đầu ra và nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm chăn nuôi được sản xuất tại địa phương.
Những tồn tại này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác lợi thế so sánh của đại phương. Vì vậy, vấn đề phát triển chăn nuôi bò là vấn đề mà cả người dân và lãnh đạo địa phương rất quan tâm. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó tôi chọn đề tài “Thực trạng, giải pháp phát triển mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng” làm khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển chăn nuôi bò của xã Lương Thông trong thời gian tới. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Là nguồn cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về sau: - Củng cố kiến thức thực tiến trong lĩnh vực nông nghiệp về sau. - Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương nghiên cứu.
- Nâng cao kiến thức kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế cho công tác nghiên cứu sau này. - Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phương thức phát triển chăn nuôi bò tại địa phương. - Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát hiệu quả hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ bò cho người dân chăn nuôi bò tại xã Lương Thông, từ đó nhận thức được vị trí của chăn nuôi bò đối với sự phát triển kinh tế của địa phương.
Qua kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện và các cơ quan liên quan trong việc phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phuơng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp nông hộ, đặc biệt là người dân chăn nuôi bò. Ý nghĩa đối với sinh viên Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng học. Đồng thời có cơ hội vận dụng vào thực tế. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Phát triển chăn nuôi bò 2.1 Khái niệm về chăn nuôi bò - Khái niệm chăn nuôi bò Bò là một loại tài sản có giá trị của nông dân. Trước kia khi máy móc chưa phát triển bò được dùng làm sức kéo còn phổ biến, là đầu cơ nghiệp của nhà nông. Ngày nay, ở nhiều nơi máy móc đã thay thế dần vai trò của bò trong khâu làm đất, nhu cầu sử dụng thịt bò làm thực phẩm của người tiêu dùng ngày càng cao, con bò đã trở thành một loại tài sản đặc biệt, một loại hàng hóa có giá trị của người nông dân và chăn nuôi bò với mục đích lấy thịt đã trở thành một ngành kinh tế sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa là một thuộc tính phổ biến, một tất yếu khách quan của sự phát triển sản xuất nói chung và chăn nuôi bò nói riêng.
Các sản phẩm của chăn nuôi bò được tiêu thụ rộng khắp ở mọi nơi. Người nông dân ngày càng chú trọng phát triển chăn nuôi bò theo hướng sản xuất hàng hóa, điều đó thể hiện thông qua việc họ đầu tư nhiều hơn về nhân lực, tài lực, vật lực cho chăn nuôi, vận dụng các kiến thức kỹ thuật chăn nuôi bò tiên tiến như kỹ thuật cải tạo đàn bò, lựa chọn giống bò có năng suất và chất lượng cao, kỹ thuật chăm súc đàn bò, kỹ thuật sản xuất thức ăn chăn nuôi. Quy mô, cơ cấu đàn bò và phương thức chăn nuôi theo xu hướng tăng số lượng, chất lượng và chăn nuôi theo phương thức công nghiệp ngày càng cao tại các nông hộ, các hợp tác xã, các trang trại. Là sản phẩm hàng hóa nên bò không khỏi ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố thị trường như giá cả, cạnh tranh, thị phần tiêu thụ.
Vì vậy, để phát triển chăn nuôi bò cần phải có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định. Chăn nuôi bò có thể là quá trình chăn nuôi khép kín (từ chăn nuôi bò cái sinh sản đến nuôi bê thịt) hoặc chăn nuôi không khép kín. Trong quy trình chăn nuôi bò không khép kín, phải chú trọng chăn nuôi bò cái sinh sản. Trong chăn nuôi bò không khép kín, phải chú ý lựa chọn chất lượng bê giống khi nuôi thịt.
Thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi bò là cơ sở đảm bảo phát huy tối đa đặc h 4 tính di truyền của bò giống để có năng suất cao và chất lượng thịt tốt. Sản phẩm trong chăn nuôi bò là trọng lượng thịt bò hơi thu được trong chu kỳ sản xuất, là trọng lượng thịt tăng do kết quả của quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng. Trọng lượng thịt tăng trong chăn nuôi bò gồm trọng lượng bê dưới 12 tháng tuổi, trọng lượng lớn lên của đàn từ 13 đến 24 tháng tuổi, trọng lượng thịt tăng của đàn bò tơ và bò loại thải vỗ béo. Trong quá trình nuôi bò với mục đích lấy thịt, nếu bê đủ tiêu chuẩn giống có thể được chuyển sang nuôi làm đàn giống sinh sản.
Nội dung của phát triển chăn nuôi bò Phát triển chăn nuôi bò bao gồm sự gia tăng về số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò, đồng thời là sự biến đổi cơ cấu đàn bò, cơ cấu giá trị sản phẩm theo hướng hiệu quả và phát triển bền vững. Vì vậy, phát triển chăn nuôi bò phải thực hiện đồng thời nhiều nội dung khác nhau, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu là: - Tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng (thể hiện tốc độ tăng trưởng trong chăn nuôi bò) bằng cách nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả, áp dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ, của vùng; - Tăng năng suất, chất lượng bò bằng cách áp dụng giống mới có tầm vóc to, trọng lượng lớn và tỷ lệ thịt sẻ cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, thích nghi với điều kiện chăn thả từng vùng hay khu vực. - Đảm bảo cơ cấu đàn bò phù hợp với tái sản xuất đàn. - Tổ chức các phương thức chăn nuôi phù hợp, phát huy có hiệu quả tiềm năng kinh tế và thế mạnh của từng vùng.
Áp dụng tốt quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, tạo ra sản phẩm thịt sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ nhu cầu con người. - Phát triển chăn nuôi bò phải cân đối với sự tăng trưởng chung của sản xuất nông nghiệp gắn với tăng trưởng kinh tế của vùng và khu vực, đảm bảo vệ sinh môi trường sống cho con người. - Trong chăn nuôi bò, sự phát triển về số lượng và chất lượng có quan hệ hữu cơ với nhau, sự phát triển về chất lượng là nhân tố làm tăng nhanh sự phát triển về h 5 số lượng và ngược lại. Với những giống bò có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích ứng được các điều kiện chăn thả, cùng việc tổ chức chăn nuôi phù hợp là cơ sở cho phát triển nhanh quy mô đàn bò, tăng lượng sản phẩm thu được.
Việc phát triên nhanh quy mô đàn bò, tăng lượng sản phẩm thu được là điều kiện hiệu quả cao trong chăn nuôi. Để tạo điều kiện phát triển chăn nuôi bò thuận lợi, việc phát triển và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phục vụ cho chăn nuôi bò là vấn đề cấp thiết, đặc biệt là hệ thống dịch vụ cung cấp giống, dịch vụ thức ăn gia súc, dịch vụ thú y, hệ thống tiêu thụ sản phẩm như chợ, cơ sở giết mổ, cơ sở chế biến thực phẩm. Thực hiện tốt các nội dung trên sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất từ chăn nuôi bò cao, thu nhập của người chăn nuôi bò tăng lên, đời sống của người chăn nuôi bò được cải thiện. Trong chăn nuôi bò, hiệu quả kinh tế thu được từ phần chênh lệch tiền thu bán sản phẩm trừ đi chi phí trong quá trình nuôi và được đánh giá qua các chỉ tiêu tổng thu nhập của hộ, thu nhập ròng/100kg thịt tăng, thu nhập ròng/công lao động, thu nhập ròng/đồng vốn bỏ ra, thu nhập ròng/tổng thu nhập từ chăn nuôi bò.