CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm [9];[14];[15] a. Kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào để tiến hành sản xuất kinh doanh, bao gồm mặt bằng, nhà xưởng, máy móc.
nguyên nhiên vật liệu, sức lao động và lao động. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức. quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước. Kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp Kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu toàn bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất công nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, bao gồm hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất (tức là tăng trưởng kinh tế) và nâng cao mức sống của dân cư cũng như chất lượng sống môi trường xung quanh của người dân. Đối với các nước đang phát triển phát triển kinh tế là quá trình nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh Luan van 9 tế, văn hoá, pháp luật, thậm chí về kĩ năng quản lý, phong cách và tập tục. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề và điều kiện tất yếu của phát triển kinh tế, nhưng không đồng nghĩa với phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp Phát triển kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân hoạt động trong ngành công nghiệp.
Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự gia tăng về số lượng các doanh nghiêp hoạt động trong ngành ở địa phương, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho kinh tế địa phương của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng lên, thay đổi về trình độ trong lao động, cơ cấu vốn. Các loại hình sản xuất, kinh doanh trong khu vực KTTN + Hộ cá thể: Loại hình hộ cá thể thực chất là KTTN có quy mô nhỏ, là đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh, có thuê mướn lao động nhưng chưa thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Hộ cá thể tồn tại như một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp như nước ta.
+ Doanh nghiệp tư nhân: Một loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Theo Luật doanh nghiệp, chủ DNTN là người đại diện của doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh Luan van 10 nghiệp, sử dụng lợi nhuận sau khi nộp thuế và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác theo pháp luật quy định; có thể trực tiếp hoặc giao cho người khác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh. Nếu giao cho người khác quản lý phải khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. + Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
Thành viên của công ty có thể là tổ chức. cá nhân; tối đa không vượt quá năm mươi người. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. + Công ty cổ phần: Công ty CP là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các khoản nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ đông có thể là tổ chức. cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa.
Công ty CP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Được phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Đặc điểm của kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp Ngoài những đặc điểm chung của kinh tế tư nhân, KTTN hoạt động trong ngành công nghiệp còn có những đặc điểm đặc thù của ngành sản xuất công nghiệp, bao gồm [tr. Sản xuất công nghiệp của khu vực KTTN bao gồm hai giai đoạn Quá trình sản xuất công nghiệp thường được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn tác động vào đối tượng lao động là môi trường tự nhiên để tạo ra nguyên liệu (khai thác than, dầu mỏ, quặng kim loại, khai thác gỗ…) và giai đoạn chế biến các nguyên liệu đó thành tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (sản xuất máy móc.
chế biến gỗ, chế biến thực phẩm…). Trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công đoạn sản xuất phức tạp nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. KTTN sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ Nhìn chung, sản xuất công nghiệp (trừ các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, khai thác gỗ…) không đòi hỏi những không gian rộng lớn. Tính chất tập trung thể hiện rõ ở việc tập trung tư liệu sản xuất, nhân công và sản phẩm.
Trên một diện tích nhất định, có thể xây dựng nhiều xí nghiệp, thu hút nhiều lao động và tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm. Khác với các ngành kinh tế khác. KTTN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đòi hỏi lượng vốn đầu tư ban đầu lớn hơn, mức độ tập trung cao hơn. Do vậy, khả năng dịch chuyển vốn sang các ngành khác (thương mại, dịch vụ, xây dựng…) là hạn chế, nên sản xuất của khu vực này thường dễ bị tác động bởi các yếu tố thường xuyên biến động từ thị trường, từ nền kinh tế hơn các các cơ sở hoạt động trong các ngành kinh tế khác.
Tính tập trung cao độ của KTTN trong công nghiệp còn thể hiện ở khả năng sử dụng máy móc. trang thiết bị hiện đại. Cơ sở KTTN hoạt động trong công nghiệp phải thường xuyên đổi mới công nghệ, nhập khẩu máy móc từ các nước tiên tiến để có khả năng gia tăng sức cạnh tranh trong sản phẩm. KTTN trong công nghiệp bao gồm nhiều ngành phức tạp, được phân công tỉ mỉ và có sự phối hợp chặt chẽ để tạo ra sản phẩm cuối cùng Công nghiệp là tập hợp của hệ thống nhiều ngành như khai thác (than, dầu mỏ…), điện lực.
luyện kim, chế tạo máy, hoá chất, thực phẩm… Các Luan van 12 ngành này kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Trong từng ngành công nghiệp, quy trình sản xuất cũng hết sức chi tiết, chặt chẽ. Chính vì vậy các hình thức chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá giữa các cơ sở KTTN có vai trò đặc biệt trong sản xuất công nghiệp. Sự phân công lao động một cách tỉ mỉ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở KTTN trong công nghiệp đòi hỏi trình độ người sử dụng lao động và tay nghề, chuyên môn người lao động cao hơn so với các ngành kinh tế khác.
Vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội [1];[17];[18] - KTTN trong ngành công nghiệp là khu vực trực tiếp sản xuất một khối lượng sản phẩm tương đối lớn đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, làm giảm bớt áp lực cầu của thị trường, đồng thời đóng góp vào Ngân sách Nhà nước. - KTTN là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, đây là nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp tư nhân mới có thể khai thác tối đa các tiềm năng của xã hội cho đầu tư phát triển. - KTTN nói chung, KTTN trong ngành công nghiệp nói riêng góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân, gia tăng giá trị xuất khẩu cho địa phương.
- Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp có thể thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ sản xuất và là người bạn đồng hành tạo ra sự tin tưởng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. - KTTN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các doanh nghiệp tư nhân trong ngành công nghiệp có khả năng tạo ra việc làm với mức đầu tư thấp để giải quyết việc làm cho số lao động dôi ra do sự phát triển của khoa học – công nghệ cũng như việc đẩy mạnh Luan van 13 việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Việc giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp sẽ dẫn đến giảm bớt các tệ nạn xã hội và tạo ra phát triển hài hòa cho nền kinh tế.
- KTTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế.