Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Lê Lai – Huyện Thạch An – Tỉnh Cao Bằng" được thực hiện bởi sinh viên Lô Trung Đức thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2014), dưới sự hướng dẫn của ThS. Lành Ngọc Tú.

Khóa luận được đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường và tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới nông nghiệp, nông thôn bắt đầu từ Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp. Nghị quyết đã xác lập kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, độc lập thông qua chính sách giao đất, giao rừng. Cả nước thời điểm đó có hơn 13 triệu hộ nông dân, đóng góp tỷ suất hàng hóa đáng kể trong ngành nông nghiệp (sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa trên 50%, cà phê đạt 45%, cao su đạt 85%, chè trên 60%, điều trên 90%).

Mặc dù giữ vai trò nền tảng đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội, khu vực kinh tế hộ nông dân cả nước vẫn đối diện với nhiều rào cản nội tại và sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Tỷ lệ hộ nghèo về lương thực, thực phẩm toàn quốc ở mức 28,9%, riêng khu vực nông thôn là 35,7% (trong đó vùng Đông Nam Bộ thấp nhất là 22%, vùng Tây Bắc cao nhất lên tới 68,7%), với hơn 1 triệu hộ nghèo. Tác giả chỉ ra ba mâu thuẫn cơ bản trong nội tại kinh tế hộ hiện nay:

  • Hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp truyền thống, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật bị kìm hãm do diện tích đất canh tác manh mún, quy mô phân tán bắt nguồn từ cơ chế chia đất bình quân.
  • Mâu thuẫn giữa tốc độ gia tăng dân số và tình trạng thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ đặc thù của sản xuất nông nghiệp tạo ra hiện tượng dư thừa lao động, kéo tụt năng suất lao động bình quân.
  • Tình trạng thiếu hụt kiến thức khoa học kỹ thuật và vốn đầu tư diễn ra phổ biến; khi tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, người dân vẫn lúng túng trong việc phân bổ và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả kinh tế.

Lê Lai là xã vùng cao thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nơi kinh tế thuần nông chiếm ưu thế tuyệt đối. Nền sản xuất kinh tế hộ tại địa phương mang tính chất tự cấp tự túc, chậm chuyển biến sang sản xuất hàng hóa và bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn trên. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Lê Lai là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng và tình hình phát triển kinh tế hộ tại xã Lê Lai, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ tại xã trong thời gian tới.
  • Mục tiêu cụ thể (được đánh số theo văn bản):
    1. Nghiên cứu được thực trạng kinh tế hộ của địa phương nghiên cứu và tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương nghiên cứu.
    2. Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trên địa bàn xã.
    3. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn xã Lê Lai.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ; các nông hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn; các yếu tố nguồn lực đầu vào (đất đai, vốn, lao động) trong sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế hộ.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu số liệu thực trạng kinh tế - xã hội địa phương trong giai đoạn 3 năm từ 2011 đến 2013; các số liệu điều tra hộ thực địa được khảo sát bổ sung vào năm 2013 và 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế hộ nông dân, xây dựng khung chỉ tiêu đánh giá và sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế nông thôn thực chứng.

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm hộ và kinh tế hộ nông dân: Khóa luận tổng hợp định nghĩa hộ theo Liên Hợp Quốc ("những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ"), quan điểm của Raul I và Martin. Từ đó xác định: "Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động tiền vốn và vật tư sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển". Đặc trưng cốt lõi của kinh tế hộ là sự kết hợp hữu cơ giữa đơn vị sản xuất và đơn vị tiêu dùng, có tính tự chủ, khả năng thích nghi cao dựa trên quan hệ sở hữu và huyết thống.
  • Khái niệm phát triển và phát triển nông thôn: Dẫn chiếu khái niệm phát triển xã hội và phát triển bền vững theo Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 ("Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai").
  • Phân loại nông hộ: Phân chia theo 4 mức độ phát triển kinh tế từ thấp đến cao: Nhóm kinh tế sinh tồn (phụ thuộc tự nhiên, công cụ thô sơ, thường trực nguy cơ thiếu đói); Nhóm kinh tế hộ tự túc (sản xuất nhỏ, khép kín, ít quan hệ thị trường); Nhóm hộ sản xuất nhỏ (có sản phẩm thặng dư trao đổi ra thị trường); Nhóm kinh tế hộ sản xuất hàng hóa lớn (quy mô trang trại gia đình, gắn liền với thị trường).
  • Chuẩn nghèo áp dụng: Căn cứ chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015 ở khu vực nông thôn: Hộ nghèo có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ cận nghèo có thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng; hộ khá có thu nhập trên 520.000 đồng/người/tháng.
  • Lý luận về hiệu quả kinh tế (HQKT): Khẳng định HQKT là tương quan so sánh giữa kết quả đầu ra đạt được và chi phí nguồn lực đầu vào bỏ ra (biểu hiện qua quy luật tiết kiệm thời gian lao động của C. Mác); hiệu quả kinh tế là tiền đề vật chất quyết định hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường.
  • Văn bản chính sách và thực tiễn: Chỉ thị số 100-CT/TW (năm 1981), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1988); bài học kinh nghiệm phát triển nông hộ của Trung Quốc (chính sách khoán hộ tự chịu trách nhiệm từ 1984, kết hợp 3 mũi nhọn: chính sách, KHKT, đầu tư tài chính), Thái Lan (chính sách can thiệp giá sàn nông sản, quỹ bình ổn giá, miễn thuế nhập khẩu phân bón, tín dụng ưu đãi), Malaysia (tập trung khuyến nông, xúc tiến xuất khẩu); định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2001 - 2005.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội thường niên, số liệu kiểm kê đất đai, niên giám thống kê giai đoạn 2011 - 2013 trực tiếp tại Ủy ban nhân dân xã Lê Lai và các tài liệu chuyên ngành liên quan.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu phân tầng. Địa bàn xã gồm 14 xóm, tác giả chọn điều tra tại 6 xóm đại diện gồm: Nà Ngài, Nà Danh, Pú Nho, Bản Căm, Bản Dăm, Nà Cốc. Tổng dung lượng mẫu điều tra là 60 hộ (mỗi xóm 10 hộ). Cơ cấu mẫu được lựa chọn tương ứng với đặc điểm phân loại hộ của xã (13% hộ nghèo, 53% hộ cận nghèo, còn lại là hộ khá): gồm 20 hộ khá, 32 hộ cận nghèo và 8 hộ nghèo. Công cụ thu thập là bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp (kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở) cùng quan sát thực địa.
  • Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Nhập liệu và tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel; tổng hợp, so sánh, phân tích định tính và định lượng trình bày trên Microsoft Word.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kinh tế hộ:

  • Chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế:
    • Giá trị sản xuất: $\text{GO} = \sum (Q_i \times P_i)$ (trong đó $Q_i$ là sản lượng nông sản thứ $i$, $P_i$ là giá bán nông sản thứ $i$).
    • Chi phí trung gian: $\text{IC} = \sum C_i$ (toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên trong sản xuất).
    • Giá trị gia tăng: $\text{VA} = \text{GO} - \text{IC}$.
    • Thu nhập hỗn hợp: $\text{MI} = \text{VA} - (A + T) - \text{Tiền công lao động}$ (với $A$ là khấu hao tài sản cố định, $T$ là thuế).
    • Tổng chi phí sản xuất: $\text{TC} = \text{IC} + \text{CL} + A + T$ ($\text{CL}$ là chi phí lao động).
    • Lợi nhuận: $\text{Pr} = \text{GO} - \text{TC}$.
    • Các chỉ tiêu hiệu quả so sánh: $\text{GO}_1/\text{IC}_1$ và $\text{Pr}_1/\text{TC}_1$ (ngành trồng trọt); $\text{GO}_2/\text{IC}_2$ và $\text{Pr}_2/\text{TC}_2$ (ngành chăn nuôi); $\text{GO}/\text{hộ}$, $\text{GO}/\text{khẩu}$, $\text{GO}/\text{lao động}$, $\text{GO}/\text{sào}$.
    • Giá trị tích lũy hộ = $\text{VA} - \text{Chi phí sinh hoạt}$.
  • Chỉ tiêu xã hội, con người và môi trường: Tỷ lệ phân hóa hộ giàu - nghèo; quy mô nhân khẩu/hộ, tỷ lệ lao động/hộ; trình độ văn hóa, dân trí; tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ đường giao thông kiên cố hóa; điều kiện chuồng trại và xử lý chất thải sinh hoạt, chăn nuôi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết tổng quan về kinh tế hộ và phát triển nông thôn:

  • Hệ thống hóa các quan điểm học thuật về hộ nông dân và kinh tế hộ, khẳng định kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, sử dụng chủ yếu lao động gia đình để khai thác các yếu tố sản xuất nhằm tối ưu hóa thu nhập.
  • Phân tích 4 nấc thang phát triển nông hộ: từ kinh tế sinh tồn, kinh tế tự túc, đến sản xuất nhỏ và sản xuất hàng hóa lớn; làm rõ ngưỡng chuẩn nghèo, cận nghèo nông thôn giai đoạn 2011 - 2015.
  • Phân tích hai nhóm nhân tố chi phối sự phát triển của kinh tế hộ: nhóm nhân tố chủ quan (đất đai, vốn sản xuất, lao động gia đình) và nhóm nhân tố khách quan (điều kiện tự nhiên, biến động thị trường cung - cầu giá cả, chính sách pháp luật của Nhà nước, phong tục tập quán).
  • Khái quát kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông hộ tại Trung Quốc (khoán hộ, chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài từ năm 1984), Thái Lan (hỗ trợ tín dụng, bình ổn giá nông sản, phát triển kênh phân phối), Malaysia (chú trọng khuyến nông và thị trường nông sản giá trị cao).
  • Tổng kết tiến trình đổi mới kinh tế hộ nông nghiệp tại Việt Nam qua các mốc lịch sử (cải cách ruộng đất 1955 - 1959, giai đoạn hợp tác hóa 1960 - 1980, Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988); phân tích hai xu hướng chuyển dịch ruộng đất và lao động nông thôn hiện nay. Đồng thời, chương này điểm lại kết quả phát triển nông nghiệp tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2001 - 2005 (GDP nông nghiệp đạt 38,5%, giá trị sản xuất đạt 15 triệu đồng/ha đất nông nghiệp).
  • Định nghĩa bản chất hiệu quả kinh tế, phân định rõ giữa khái niệm kết quả sản xuất (đại lượng tuyệt đối đo bằng hiện vật hoặc giá trị) và hiệu quả kinh tế (tương quan tương đối giữa kết quả và chi phí).

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai đề tài tại địa bàn xã Lê Lai, huyện Thạch An:

  • Xác định đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh tế hộ, cơ cấu hộ và các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp; phạm vi thời gian từ năm 2011 đến 2013 và khảo sát mẫu năm 2013 - 2014.
  • Thiết kế phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ UBND xã Lê Lai và số liệu sơ cấp qua điều tra chọn mẫu phân tầng 60 hộ dân tại 6 xóm (Nà Ngài, Nà Danh, Pú Nho, Bản Căm, Bản Dăm, Nà Cốc). Mẫu khảo sát phân định thành 20 hộ khá, 32 hộ cận nghèo và 8 hộ nghèo.
  • Thiết lập hệ thống công thức tính toán và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lượng hóa kết quả sản xuất ($\text{GO}, \text{IC}, \text{VA}, \text{MI}, \text{TC}, \text{Pr}$) cùng các chỉ tiêu phản ánh đời sống xã hội, dân số, lao động và môi trường sinh thái nông thôn.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lê Lai giai đoạn 2011 - 2013:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã nằm ở phía bắc huyện Thạch An, cách thị trấn Đông Khê 1,5 km; tiếp giáp xã Vân Trình, Thị Ngân, Đức Xuân, Trọng Con, Thái Cường, Thụy Hùng, Danh Sỹ. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi núi đá vôi xen kẽ núi đất. Khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa miền núi cao với nền nhiệt độ trung bình năm ổn định (năm 2011 đạt 21,2°C; năm 2012 đạt 20,8°C; năm 2013 đạt 21,0°C; nhiệt độ tháng 1 thấp nhất từ 12 - 13°C, tháng 7 cao nhất từ 27 - 28°C). Lượng mưa trung bình năm đạt 140 - 150 mm/tháng; mưa tập trung cao nhất vào tháng 7 và 8 (đạt 350 mm), thấp nhất vào mùa đông (tháng 1 đạt 28 mm, tháng 12 đạt 20 mm). Nguồn nước mặt cung cấp từ 2 hồ chứa chính là hồ Nà Danh và hồ Khuổi Vàng cùng các khe suối dốc, dễ xảy ra lũ quét vào mùa mưa và cạn kiệt vào mùa đông. Địa bàn có 4 nhóm đất chính: đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ (PK), đất đỏ vàng trên sét (F3), đất thung lũng ngưng tụ (D), đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (F1).
  • Tình hình sử dụng đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên có biến động nhẹ trong cơ cấu. Đất sản xuất nông nghiệp tăng từ 662,54 ha (năm 2011) lên 664,75 ha (năm 2012) và đạt 670,21 ha (năm 2013). Đất trồng lúa duy trì cố định ở mức 255,33 ha (chiếm 7,88% diện tích). Đất trồng cây hàng năm khác tăng từ 360,89 ha lên 368,46 ha. Đất nuôi trồng thủy sản giảm từ 17,60 ha xuống 15,49 ha do san lấp và xói mòn lòng hồ. Đất phi nông nghiệp tăng từ 229,84 ha lên 241,25 ha do mở rộng đất thổ cư và công trình chuyên dùng. Đất chưa sử dụng giảm từ 118,65 ha xuống 101,68 ha.
  • Dân số, dân tộc và lao động: Toàn xã có 14 xóm, 728 hộ với 3.004 nhân khẩu. Địa bàn gồm 5 thành phần dân tộc: Tày (1.487 người, chiếm 49,5%), Nùng (1.397 người, chiếm 46,5%), Dao (94 người, chiếm 3,1%), Kinh (22 người, chiếm 0,8%), dân tộc khác (4 người, chiếm 0,2%). Tỷ lệ hộ thuần nông chiếm 79,0% (575 hộ), hộ phi nông nghiệp chiếm 21,0% (153 hộ). Tổng số lao động năm 2013 là 2.639 người; trong đó lao động nông nghiệp chiếm 69,8% (1.842 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 30,2% (797 người). Lao động bình quân tăng từ 3,2 người/hộ (năm 2011) lên 3,6 người/hộ (năm 2013).
  • Giá trị sản xuất kinh doanh: Tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 20.825,54 nghìn đồng (năm 2011) lên 29.379,59 nghìn đồng (năm 2013). Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 65,22% (13.582,00 nghìn đồng) xuống 60,10% (17.658,27 nghìn đồng); dịch vụ và ngành nghề nông thôn tăng từ 34,78% (7.243,54 nghìn đồng) lên 39,90% (11.721,32 nghìn đồng). Chỉ tiêu $\text{GO}/\text{hộ}$ tăng từ 29,29 lên 40,36 triệu đồng; chỉ tiêu $\text{GO}/\text{khẩu}$ tăng từ 7,07 lên 9,80 triệu đồng.
  • Thực trạng kết cấu hạ tầng:
    • Giao thông: Có QL 4A cũ và mới (15 km), đường tỉnh 208 (7 km), đường tỉnh 209 (9 km). Tuy nhiên, đường trục liên thôn chỉ bê tông hóa được 2/4 thôn; đường ngõ xóm dài 29 km mới bê tông hóa được 1 km; 15 tuyến đường nội đồng (dài 16 km) hoàn toàn chưa được cứng hóa.
    • Thủy lợi và cấp nước: Có 5 đập dâng (tưới 158,55 ha) và 2 hồ chứa (tưới 166,24 ha). Diện tích được tưới chủ động hoàn toàn chỉ đạt 20,4% tổng diện tích canh tác; hệ thống kênh mương toàn xã dài 31 km nhưng mới kiên cố hóa được 10 km (còn 21 km mương đất).
    • Vệ sinh môi trường: Tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 75% (536 hộ dùng nước tự chảy); chỉ có 7% số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; chất thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý.
    • Hạ tầng xã hội: 14/14 xóm chưa có điểm truy cập internet; xã chưa có chợ loại III; trường mầm non, tiểu học, THCS Tiên Hoàng và trạm y tế xã đều thiếu thốn phòng chức năng, trang thiết bị, chưa đạt chuẩn quốc gia.
  • Dữ liệu khảo sát nông hộ: Khóa luận xây dựng danh mục bảng số liệu điều tra mẫu 60 hộ (năm 2013 - 2014) về tư liệu công cụ sản xuất, chi phí - doanh thu sản xuất lúa, ngô trên 1 sào canh tác, chi phí chăn nuôi, thu nhập hỗn hợp và mức chi phí sinh hoạt thường nhật của 3 nhóm hộ (khá, cận nghèo, nghèo).

Chương 4: Các giải pháp phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Lê Lai

Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông hộ bền vững:

  • Nêu quan điểm và định hướng phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác lợi thế đất đai, tăng cường liên kết kinh tế giữa trồng trọt và chăn nuôi.
  • Nhóm giải pháp chung: Nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nghề nông thôn để giải quyết việc làm mùa vụ; tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, ứng dụng giống lúa, ngô lai năng suất cao; hoàn thiện mạng lưới giao thông nội đồng và kiên cố hóa kênh mương thủy lợi.
  • Nhóm giải pháp cụ thể:
    • Đối với Nhà nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và cận nghèo tiếp cận vốn sản xuất; đầu tư nguồn vốn ngân sách nâng cấp hạ tầng giao thông liên thôn, trạm bơm tưới tiêu; triển khai chính sách trợ giá vật tư đầu vào và hỗ trợ tiêu thụ nông sản miền núi.
    • Đối với chính quyền địa phương xã Lê Lai: Quy hoạch và xúc tiến đầu tư xây dựng mới 01 chợ trung tâm xã diện tích 2.000 m²; củng cố tổ khuyến nông cơ sở; hướng dẫn nông hộ xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, áp dụng công nghệ xử lý chất thải bảo vệ nguồn nước; đẩy mạnh chuyển dịch lao động dôi dư sang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh toàn diện nguồn lực đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh tại xã Lê Lai qua các bảng tổng hợp sau:

Bảng 1: Hiện trạng cơ cấu đất đai xã Lê Lai giai đoạn 2011 – 2013

Chỉ tiêu đất đai Năm 2011 (ha) Năm 2012 (ha) Năm 2013 (ha) Cơ cấu 2013 (%)
Đất sản xuất nông nghiệp 662,54 664,75 670,21 20,52
- Trong đó: Đất trồng lúa 255,33 255,33 255,33 7,88
- Đất trồng cây hàng năm khác 360,89 363,10 368,46 11,21
Đất trồng cây lâu năm 46,32 46,32 46,32 1,43
Đất nuôi trồng thuỷ sản 17,60 16,05 15,49 0,50
Đất phi nông nghiệp 229,84 240,65 241,25 7,43
Đất chưa sử dụng 118,65 107,18 101,68 3,31

Bảng 2: Biến động dân số và cơ cấu lao động xã Lê Lai giai đoạn 2011 – 2013

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tổng số hộ Hộ 711 719 728
- Hộ thuần nông Hộ 567 (79,7%) 570 (79,3%) 575 (79,0%)
- Hộ phi nông nghiệp Hộ 144 (20,3%) 149 (20,7%) 153 (21,0%)
Tổng số lao động Người 2.303 2.355 2.639
- Lao động nông nghiệp Người 1.745 (75,8%) 1.785 (75,8%) 1.842 (69,8%)
- Lao động phi nông nghiệp Người 558 (24,2%) 570 (24,2%) 797 (30,2%)
Lao động bình quân/hộ Người/hộ 3,2 3,3 3,6
Nhân khẩu bình quân/hộ Người/hộ 4,1 4,1 4,1

Bảng 3: Giá trị sản xuất và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã Lê Lai (2011 – 2013)

Chỉ tiêu kinh tế Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tổng GTSX (nghìn đồng) 20.825,54 26.782,15 29.379,59
- Ngành nông nghiệp (nghìn đồng) 13.582,00 (65,22%) 16.525,40 (61,70%) 17.658,27 (60,10%)
- Ngành dịch vụ, ngành nghề (nghìn đồng) 7.243,54 (34,78%) 10.256,75 (38,30%) 11.721,32 (39,90%)
GTSX bình quân/hộ (GO/hộ) (triệu đồng) 29,29 37,25 40,36
GTSX bình quân/khẩu (GO/khẩu) (triệu đồng) 7,07 9,00 9,80

Đóng góp của khóa luận do tác giả tự nêu:

  • Hệ thống hóa và bổ sung các cơ sở lý luận, phương pháp luận đánh giá hiệu quả kinh tế hộ trong nông nghiệp nông thôn miền núi.
  • Phản ánh trung thực thực trạng, tiềm năng, các thuận lợi và rào cản phát triển kinh tế hộ tại một địa bàn miền núi cụ thể (xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng).
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn và đề xuất các giải pháp có tính khả thi cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông hộ sang sản xuất hàng hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Theo tự nhận định của tác giả trong lời cảm ơn, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót do hạn chế về thời gian và điều kiện tiếp cận thực địa của sinh viên. Cụ thể, mẫu điều tra sơ cấp mới dừng lại ở quy mô 60 hộ thuộc 6/14 xóm, chưa bao quát toàn bộ 14 xóm trong xã; chuỗi số liệu thống kê thứ cấp của địa phương chỉ tập trung trong giai đoạn 2011 - 2013; việc phân tích thị trường đầu ra cho nông sản chưa mở rộng ra ngoài phạm vi liên huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát đến toàn bộ các xóm đặc biệt khó khăn của xã; nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả phân bổ vốn tín dụng ưu đãi và đánh giá chi tiết chuỗi liên kết giá trị nông sản (trồng trọt và chăn nuôi) giữa kinh tế hộ với các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế và Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai; đồng thời cung cấp tư liệu thực chứng cho cán bộ quản lý nông nghiệp cấp cơ sở, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Thạch An, UBND xã Lê Lai.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thiết kế mẫu phân tầng (phân loại hộ khá, hộ cận nghèo, hộ nghèo) để điều tra kinh tế nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.
    • Hệ thống chỉ tiêu lượng hóa tài chính nông hộ ($\text{GO}, \text{IC}, \text{VA}, \text{MI}, \text{Pr}$) và các tỷ suất chi phí - lợi nhuận đặc thù của kinh tế nông nghiệp.
    • Toàn bộ cơ sở dữ liệu chi tiết về thổ nhưỡng, địa hình, dân số, dân tộc và thực trạng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (kênh mương, giao thông nội đồng, điện, nước sinh hoạt) của xã Lê Lai giai đoạn 2011 – 2013.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu thành phần dân tộc tại xã Lê Lai phân bố như thế nào?
Toàn xã có 3.004 nhân khẩu sinh sống tại 14 xóm thuộc 5 dân tộc: người Tày chiếm đa số với 1.487 người (49,5%), người Nùng có 1.397 người (46,5%), người Dao có 94 người (3,1%), người Kinh có 22 người (0,8%) và các dân tộc khác có 4 người (0,2%).

2. Mẫu điều tra khảo sát nông hộ được tác giả phân bổ ra sao?
Tác giả chọn mẫu phân tầng tại 6 xóm (Nà Ngài, Nà Danh, Pú Nho, Bản Căm, Bản Dăm, Nà Cốc) với tổng số 60 phiếu điều tra (mỗi xóm 10 hộ). Cơ cấu mẫu gồm 20 hộ khá, 32 hộ cận nghèo và 8 hộ nghèo, bám sát tỷ lệ phân loại hộ thực tế của địa phương (toàn xã có 13% hộ nghèo và 53% hộ cận nghèo).

3. Cơ cấu giá trị sản xuất kinh doanh của xã Lê Lai chuyển dịch như thế nào từ năm 2011 đến 2013?
Tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 20.825,54 nghìn đồng (năm 2011) lên 29.379,59 nghìn đồng (năm 2013). Trong đó, ngành nông nghiệp giảm tỷ trọng từ 65,22% xuống 60,10%, còn ngành dịch vụ và ngành nghề nông thôn tăng tỷ trọng từ 34,78% lên 39,90%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất bình quân hộ ($\text{GO}/\text{hộ}$) tăng từ 29,29 triệu đồng lên 40,36 triệu đồng.

4. Thực trạng hạ tầng thủy lợi và diện tích tưới tiêu tại xã Lê Lai đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Toàn xã có 5 đập dâng và 2 hồ chứa nước (hồ Nà Danh và hồ Khuổi Vàng) phục vụ tưới tiêu cho 342,79 ha ruộng 2 vụ. Tuy nhiên, diện tích được cấp nước chủ động hoàn toàn chỉ đạt 20,4% tổng diện tích canh tác (tương ứng với 662,54 ha đất sản xuất nông nghiệp chưa được đáp ứng đầy đủ). Hệ thống kênh mương toàn xã có 31 km nhưng mới kiên cố hóa được 10 km, còn 21 km vẫn là mương đất.

5. Tiêu chí phân loại hộ nghèo và cận nghèo nông thôn áp dụng trong nghiên cứu căn cứ vào định mức nào?
Nghiên cứu áp dụng chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2011 - 2015: Hộ nghèo có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ cận nghèo có thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng; các hộ có mức thu nhập cao hơn 520.000 đồng/người/tháng được xếp vào nhóm hộ khá.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Lô Trung Đức phản ánh một cách có hệ thống thực trạng sản xuất và đời sống kinh tế hộ tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2013. Tác giả đã kết hợp phân tích chuỗi số liệu thống kê của địa phương với điều tra khảo sát thực địa 60 nông hộ để nhận diện rõ nét những rào cản về kết cấu hạ tầng, trình độ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Công trình đưa ra được các nhóm giải pháp xuất phát từ thực tiễn, đóng vai trò tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho công tác quản lý và định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa bàn miền núi.