Luận văn thạc sĩ về giải pháp phát triển hiệp hội ngành hàng Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH trình bày giải pháp phát triển các hiệp hội ngành hàng Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và hợp tác.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2010

132
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG

1.1. Khái niệm về Hiệp hội ngành hàng

1.2. Khái niệm về Tổ chức dân sự, Hiệp hội

1.3. Chức năng của Hiệp hội ngành hàng

1.4. Đại diện quyền lợi của doanh nghiệp. Quan hệ với chính quyền

1.5. Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước

1.6. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của Hiệp hội ngành hàng. Yếu tố khách quan

1.8. Khung pháp lý cho việc xây dựng và phát triển Hiệp hội ngành hàng

1.9. Vai trò của các cơ quan quản lý đối với Hiệp hội ngành hàng. Vai trò của cộng đồng doanh nghiệp đối với Hiệp hội ngành hàng

1.10. Yếu tố chủ quan

1.11. Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội ngành hàng

1.12. Nguồn lực về tài chính của Hiệp hội ngành hàng

1.13. Nguồn nhân lực của Hiệp hội ngành hàng

1.14. Bài học kinh nghiệm phát triển Hiệp hội ngành hàng

1.14.1. Hoạt động của một số Hiệp hội ngành hàng các nước Châu Á

1.14.2. Hiệp hội Giày dép Đài Loan

1.14.3. Hiệp hội Cao su Thái Lan

1.14.4. Hiệp hội Da Trung Quốc

1.14.5. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

1.15. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.2. Sự ra đời và phát triển của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.3. Những quan điểm về tổ chức và hoạt động Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.4. Thực trạng hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.5. Về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.5.1. Yếu tố khách quan

2.5.2. Khung pháp lý cho việc xây dựng và phát triển các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.5.3. Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.5.4. Tác động của cộng đồng doanh nghiệp đối với các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.5.5. Yếu tố chủ quan

2.6. Cơ cấu tổ chức của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.7. Nguồn lực tài chính của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.8. Nguồn nhân lực của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.9. Về việc thực hiện chức năng của các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.9.1. Về việc thực hiện chức năng đại diện quyền lợi của doanh nghiệp

2.9.2. Quan hệ với chính quyền. Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước

2.9.3. Về việc thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

2.10. Đánh giá chung về các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

2.10.1. Những thành công đã đạt được

2.10.2. Những mặt còn hạn chế

2.11. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG VIỆT NAM

3.1. Quan điểm và định hướng phát triển các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

3.1.1. Quan điểm phát triển các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

3.1.2. Định hướng phát triển các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

3.1.2.1. Số lượng các Hiệp hội ngành hàng sẽ tăng lên nhanh chóng
3.1.2.2. Chất lượng hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng ngày càng được nâng cao

3.2. Giải pháp phát triển các Hiệp hội ngành hàng Việt Nam

3.2.1. Giải pháp về phía Hiệp hội ngành hàng

3.2.1.1. Chủ động cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của Hiệp hội ngành hàng
3.2.1.2. Điều chỉnh cơ cấu tổ chức nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Hiệp hội ngành hàng
3.2.1.3. Tăng cường nhân sự cho Hiệp hội ngành hàng
3.2.1.4. Bảo đảm yêu cầu về tài chính cho hoạt động của Hiệp hội ngành hàng
3.2.1.5. Thực hiện hiệu quả chức năng của Hiệp hội ngành hàng đối với hội viên
3.2.1.6. Phát huy chức năng là đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp
3.2.1.7. Nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp

3.2.2. Giải pháp về phía Nhà nước

3.2.2.1. Xây dựng cơ sở pháp lý cho các Hiệp hội ngành hàng hoạt động
3.2.2.2. Mở rộng thành phần hội viên, thể chế hóa các mối quan hệ
3.2.2.3. Phát huy hơn nữa vai trò hỗ trợ đối với các Hiệp hội ngành hàng

3.2.3. Một số giải pháp khác

3.3. Kết luận chương 3

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp phát triển hiệp hội ngành hàng Việt Nam

Hiệp hội ngành hàng (HHNH) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển các hiệp hội này trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Các hiệp hội không chỉ là cầu nối giữa doanh nghiệp và chính quyền mà còn là nơi tập hợp, bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp trong ngành hàng. Để phát triển hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ và cụ thể.

1.1. Khái niệm và vai trò của hiệp hội ngành hàng

Hiệp hội ngành hàng là tổ chức tự nguyện, phi lợi nhuận, tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành để bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh doanh. Vai trò của hiệp hội không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn bao gồm việc vận động chính sách, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam

Hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam đã hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 21, với sự ra đời của nhiều hiệp hội trong các lĩnh vực như dệt may, thủy sản, và chế biến thực phẩm. Sự phát triển này phản ánh nhu cầu kết nối và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

II. Những thách thức trong phát triển hiệp hội ngành hàng Việt Nam

Mặc dù hiệp hội ngành hàng đã có những đóng góp tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các hiệp hội thường gặp khó khăn trong việc thu hút thành viên, thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực, cũng như gặp phải sự cạnh tranh từ các tổ chức khác. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động của hiệp hội.

2.1. Thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực

Nhiều hiệp hội ngành hàng gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lực tài chính để hoạt động. Điều này dẫn đến việc thiếu nhân sự có chuyên môn cao, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp thành viên.

2.2. Sự cạnh tranh từ các tổ chức khác

Các hiệp hội ngành hàng không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà còn với các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội khác. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với các hiệp hội trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút thành viên.

III. Giải pháp phát triển hiệp hội ngành hàng Việt Nam hiệu quả

Để phát triển hiệp hội ngành hàng một cách hiệu quả, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ. Các hiệp hội cần chủ động cải thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và tăng cường nhân sự. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hiệp hội.

3.1. Cải thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo

Cần điều chỉnh cơ cấu tổ chức của hiệp hội để phù hợp với nhu cầu thực tế và nâng cao năng lực lãnh đạo. Việc này sẽ giúp hiệp hội hoạt động hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp thành viên.

3.2. Tăng cường hợp tác với các tổ chức khác

Hiệp hội cần chủ động hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và nguồn lực. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực của hiệp hội mà còn tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp thành viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hiệp hội ngành hàng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệp hội ngành hàng có thể đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Các hiệp hội đã hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện quy trình sản xuất. Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của hiệp hội trong việc phát triển kinh tế.

4.1. Các mô hình hiệp hội thành công tại Việt Nam

Một số hiệp hội như Hiệp hội Dệt may Việt Nam và Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đã thể hiện được vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. Những mô hình này có thể được nhân rộng và áp dụng cho các hiệp hội khác.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp

Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp từ hiệp hội đã giúp nhiều doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường. Những kết quả này cần được ghi nhận và phát huy hơn nữa trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của hiệp hội ngành hàng Việt Nam

Hiệp hội ngành hàng Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Để phát triển bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các hiệp hội, doanh nghiệp và chính quyền. Tương lai của hiệp hội ngành hàng phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các tổ chức này trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

5.1. Tầm nhìn phát triển hiệp hội ngành hàng trong tương lai

Cần xây dựng một tầm nhìn rõ ràng cho sự phát triển của hiệp hội ngành hàng, trong đó nhấn mạnh vai trò của hiệp hội trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

5.2. Đề xuất các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước

Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho hiệp hội ngành hàng, bao gồm việc tạo điều kiện về mặt pháp lý, tài chính và nguồn lực. Điều này sẽ giúp hiệp hội hoạt động hiệu quả hơn và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp phát triển các hiệp hội ngành hàng việt nam luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG 1. Khái niệm về HHNH 1. Khái niệm về Tổ chức dân sự, HH Theo quan điểm chung của hầu hết các nước trên thế giới và theo các nhà nghiên cứu xã hội học hiện đại, xã hội được xem xét theo ba khu vực chính, đan xen nhau là: Nhà nước – Thị trường – Dân sự (các tổ chức do dân lập ra và tự quản lý, thường được gọi là các tổ chức phi chính phủ hoặc xã hội dân sự). Nhà nước (gồm các cơ quan công quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp) có chức năng thiết lập và thực thi các quy tắc cai quản xã hội; 2.

Thị trường (gồm các tổ chức kinh doanh: sản xuất và dịch vụ) có chức năng tiến hành các hoạt động kinh tế, tạo ra của cải vật chất; 3. Khu vực nằm giữa hai khu vực trên (gồm các tổ chức xã hội, các hội quần chúng, các HH nghề nghiệp, các tổ chức nhân đạo v.) có chức năng phát triển các giá trị chung, quyền lợi của cộng đồng và nghĩa vụ công dân. Khu vực thứ ba, khu vực các tổ chức dân sự, ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển và hiện nay trong các xã hội tự do dân chủ, các tổ chức dân sự đang có xu thế thay thế nhiều chức năng của khu vực Nhà nước/ Chính phủ trong nhiều hoạt động quản lý và phát triển xã hội. Tổ chức dân sự là các tổ chức tình nguyện, phi lợi nhuận, không bao hàm Nhà nước, hoạt động trên tất cả lĩnh vực xã hội như: công nghiệp, nông nghiệp, lao động, du lịch, hợp tác xã, phát triển khu vực, di cư, môi trường; phúc lợi xã hội, giáo dục, văn hóa, y tế, dân số, thanh niên, thể thao; luật pháp và chính sách: tuyên truyền và phổ biến thông tin đại chúng, vấn đề giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm, v.

Trong khu vực này, các thực thể pháp nhân thường được các nước gọi là các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó, các tổ chức phi lợi nhuận (NPO) hoạt động vì lợi ích công đóng vai trò tiên phong và có hiệu quả cao đóng góp cho tiến trình phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 triển xã hội. Do đó, các tổ chức này thường được hưởng những ưu đãi nhất định từ Chính phủ và Chính quyền địa phương, mà chủ yếu là cơ chế khuyến khích hoạt động và hỗ trợ về tài chính. Các NPO trở thành đối tác của Chính phủ thông qua sự phối hợp giữa NPO với Nhà nước trong sự nghiệp phát triển xã hội.

Vai trò của các NGO và NPO đang được chính quyền các nước nhìn nhận và đánh giá ngày càng cao trong việc xã hội hóa các hoạt động của Nhà nước. Họ chính là người thực hiện các chương trình, dự án trong mọi lĩnh vực phát triển xã hội. Với những hoạt động không bị hành chính hóa, họ là người trực tiếp mang những chiếc “cần câu” – phương tiện để tồn tại và phát triển – đến cho mọi nhà, mọi số phận của các cộng đồng dân cư. Với phương pháp làm việc nhạy bén, tự nguyện, sát thực tế, khoa học và dân chủ, với mạng lưới rộng khắp, hoạt động của họ mang lại hiệu quả nhiều hơn so với cách làm việc hành chính của khu vực quản lý nhà nước.

Nhận thức được điều này, Chính phủ của hầu hết các nước trên thế giới hiện đại đã phối hợp, hỗ trợ cùng với các tổ chức dân sự, các NGO, NPO trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các tổ chức này trong các chương trình phát triển của Nhà nước. Trên thực tế, tại nhiều quốc gia, Nhà nước đã bước đầu chuyển giao ngay cả một số chức năng của quản lý nhà nước cho các tổ chức dân sự (sự giao phó cho các tổ chức dân sự trong giải quyết nhiều vấn đề xã hội, chia sẻ với chính phủ các dịch vụ công cộng… là những biểu hiện của xu thế này). Ứng xử cơ bản ở đây của Nhà nước là tuân thủ nguyên tắc: Khi có một tổ chức cộng đồng làm tốt và phát huy được ưu thế hơn hẳn so với cơ quan chuyên môn tương ứng của Nhà nước thì một Chính phủ mạnh, dám cải cách, sẽ chuyển giao hoạt động đó cho các tổ chức dân sự. Hội/ HH là một tổ chức dân sự, nằm trong khu vực tổ chức dân sự.

Theo trên, ta có thể xác định được HH với những đặc điểm cơ bản sau đây:  Là một tổ chức mang tính chất cộng đồng mà trong đó các thành viên (có thể là cá nhân hay tổ chức) tự nguyện tham gia nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của các thành viên; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8  Các nhu cầu tham gia vào HH thì nhiều khi không phải đơn thuần về mặt kinh tế mà còn các nhu cầu đa dạng khác, do đó HH tồn tại và hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, tôn giáo…;  HH là một tổ chức phi chính phủ, không tư pháp, hành pháp hay lập pháp, nói cách khác quyền lực của HH không mang tính chất chính trị, hành chính mà là quyền lực có tính chất xã hội;  HH là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên.  Hội, HH là một dạng tổ chức nên nó phải bao hàm những tính chất đặc điểm của thể chế, nghĩa là một hệ thống ý niệm áp dụng cho một tập thể hay một tổ chức bao gồm: phong tục, tập quán được áp dụng rộng rãi, hoặc luật chơi (luật lệ). được một tổ chức xã hội chấp nhận. Cùng với việc đề ra luật chơi, tổ chức phải có hình thức cần thiết để thực thi luật chơi, để giải quyết tranh chấp khi có sự hiểu biết khác nhau về luật chơi, để xử lý khi có vi phạm.

Hay nói cách khác, HH thiết lập định chế tự quản của các thành viên mà không cần đến biện pháp can thiệp của Nhà nước. Những tính chất cơ bản trên đã được thể hiện rõ trong khái niệm Hội theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP do Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 04 năm 2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Theo đó, Hội là “Tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khái niệm về HHNH  Hiệp hội doanh nghiệp (HHDN) HHDN là HH của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.

Thực ra tham gia HHDN không chỉ có các DN mà còn có thể gồm một số tổ chức kinh tế - kỹ thuật khác có chung lợi ích cần liên kết để cùng nhau bảo vệ và phát triển (như các hợp tác xã, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trang trại, đơn vị dịch vụ khoa học kỹ thuật, ngân hàng, các tổ chức tín dụng…). HHDN là một bộ phận trong các tổ chức dân sự, thuộc “khu vực thứ ba”. Vì vậy, HHDN vừa mang tính chất của HH, hay nói cách khác là mang tính chất của một tổ chức dân sự, lại vừa có những nét đặc thù. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của HHDN cũng như HH là tự quản (độc lập với công quyền), tự nguyện (tham gia hoặc không), tự trang trải (không phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước) và phi lợi nhuận (không vì mục đích vụ lợi), mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu của các hội viên mà ở đây chính là nhu cầu của các tổ chức kinh tế, các DN.

Điểm đặc biệt là tuy các HHDN cũng như các dạng HH khác là tổ chức phi chính phủ (NGO) và phi lợi nhuận (NPO), nhưng lại có quan hệ rất gần gũi với các các tổ chức kinh tế hay các DN nói chung (là tất cả các hình thức tổ chức phục vụ cho mục đích kinh tế và kinh doanh như các Tập đoàn, Công ty, Xí nghiệp hoặc các tổ chức thương mại khác; đó là các tổ chức thuộc khu vực Thị trường – “khu vực thứ hai”). Vì vậy, bên cạnh những nguyên tắc chung như HH, HHDN còn mang những nét đặc trưng của mình. HHDN thực chất là một tổ chức nghề nghiệp, bởi đó là sự liên minh giữa những người cùng nghề nghiệp (ngành kinh doanh) để phát triển ngành nghề, phối hợp hoạt động vì nghề nghiệp, cụ thể hơn là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DN hội viên, điều hòa lợi ích, yểm trợ nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy gia tăng lợi nhuận của mọi đơn vị thành viên. Xét về mặt lợi ích, HHDN ra đời và phát triển được hay không phải căn cứ vào lợi ích kinh tế thiết thực mà HH mang lại cho các hội viên.

Hội viên là các DN hoạt động với mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, họ không phải tìm kiếm lợi nhuận trong HHDN, mà đó chỉ là nơi giúp cho họ tìm kiếm lợi nhuận trên thương trường với kết quả tốt hơn. Mục tiêu của HHDN là giúp DN hội viên trực tiếp và gián tiếp tăng thêm lợi nhuận trong hoạt động của họ. Hội phí phải được tính toán trên cơ sở “chi phí cận biên”, theo đó mỗi đồng hội phí tăng thêm phải tạo ra lợi nhuận gia tăng theo cả nghĩa đen LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 và nghĩa bóng của từ này.

Hội phí không thể tăng thêm nếu không mang lại lợi ích gì cho DN hội viên. Vai trò, chức năng cơ bản của HHDN là tập hợp các DN trong tổ chức thống nhất, tạo ra sức mạnh mới cả về chất và lượng so với từng DN riêng lẻ. HH bảo vệ quyền lợi chung của các DN hội viên, là cầu nối giữa DN với Nhà nước trong những vấn đề liên quan đến chính sách của Nhà nước và với thị trường, đại diện cho cộng đồng DN trên các diễn đàn quốc tế, đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của các DN hội viên. Các HHDN có vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, tăng cường hiệu quả hoạt động của các DN.

Tại Việt Nam, HHDN cũng được điều chỉnh theo Nghị định đối với Hội nói chung (Nghị định số 45/2010/NĐ-CP do Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 4 năm 2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ