CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN FINTECH ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về Fintech 1. Định nghĩa Fintech Fintech viết tắt của từ Financial Technology (Công nghệ tài chính). Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về Fintech.
Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu Fintech là từ được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng internet, áp dụng một số công nghệ như công nghệ điện toán đám mây, các phần mềm mã nguồn mở hay tiền mã hóa như Bitcoin, điện thoại di động,… Nhằm cung cấp dịch vụ tài chính tới khách hàng theo một cách thức mới, thuận tiện hơn tốn ít chi phí hơn, từ đó cải thiện hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư. Theo Huffing Post: “Fintech được định nghĩa là một nghành công nghiệp tài chính mới áp dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính” Fintech là các ứng dụng, qui trình, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới trong ngành dịch vụ tài chính, bao gồm một hay nhiều dịch vụ tài chính bổ sung và được cung cấp như một qui trình ‘từ đầu cuối tới đầu cuối’ qua mạng internet. Đối tượng của Fintech Nếu thị trường tài chính truyền thống là sự tác động qua lại giữa 3 chủ thể, một bên là các nhà quản lý chính sách, các định chế tài chính (các tổ chức tài chính, chứng khoán…) và bên còn lại là khách hàng, thì khi các công ty Fintech xuất hiện, thị trường hình thành lên mối liên hệ giữa 5 bên có tác động lẫn nhau: Thứ nhất, Tổ chức và cơ quan nhà nước là đơn vị đưa ra những quy định, chính sách tạo hành lang cho các công ty Fintech hoạt động cũng như là cơ sở để Fintech và ngân hàng hợp tác với nhau, cùng với đó tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty khởi nghiệp Fintech cung cấp nhiều dịch vụ tài chính với lợi thế là ít tốn kém và khách hàng dễ tiếp cận hơn những dịch vụ truyền thống Thứ hai, các định chế tài chính. Trong giai đoạn đầu phát triển của Fintech, các định chế tài chính tỏ thái độ lắng với những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là những công ty Fintech.
Tuy nhiên, ngày nay các định chế đã chủ động hơn, bớt lo ngại hơn 5 thay vào đó họ hiểu rằng càng hợp tác sâu rộng với các công ty Fintech sẽ là phương pháp tối ưu nhất khi mà các định chế tài chính có lợi thế là có hành lang pháp lý rõ ràng và đặc biệt họ có được lòng tin của khách hàng còn các công ty Fintech họ có trong tay những công nghệ mới, đồng thời trực tiếp đầu tư vào các công ty Fintech để làm giảm quy mô vốn đầu tư phải bỏ ra hoặc một số các định chế tài chính có tiềm lực tài chính hơn thì thực hiện các hoạt động nghiên cứu để chủ động nắm giữ công nghệ mới và chiếm giữ thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ ba, các công ty Fintech – những công ty hoạt động chủ yếu dựa vào nền tảng công nghệ sẵn có, nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực công nghệ từ đó thiết kế cung cấp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới có hàm lượng công nghệ cao để ứng dụng vào cuộc sống đặc biệt những sản phẩm thuộc lĩnh vực tài chính là kết quả của quá trình hợp tác giữa công ty Fintech với các định chế tài chính. Nhóm sản phẩm tài chính này hướng tới 2 đối tượng: Các định chế tài chính, sản phẩm phải phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển của các định chế tài chính, tránh xung đột với các sản phẩm hiện có cũng như đảm bảo tính bảo mật cho khách hàng sử dụng cũng như an toàn cho hệ thống của ngân hàng Khách hàng, là những người, tổ chức trực tiếp sản phẩm do đó nó phù hợp cần giải quyết những mong muốn của khách hàng mang tới tính tiện ích cao. Thứ tư, nhà phát triển công nghệ.
Cung cấp nền tảng kỹ thuật ví dụ như cung cấp mạng internet, mạng 3G/4G, các linh kiện điện tử,… nhằm tạo ra môi trường thuận lợi, giúp cho các công ty khởi nghiệp Fintech thực hiện những ý tưởng, thiết kế những sản phẩm dịch vụ trên nền tảng công nghệ sẵn có, cũng như để cải tiến nhiều dịch vụ theo xu hướng phát triển chung của khoa học công nghệ. Thứ năm, khách hàng. Cho dù sản phẩm, dịch vụ mang hàm lượng công nghệ bắt nguồn từ các định chế tài chính hay từ các công ty Fintech thì tất cả các sản phẩm dịch vụ đều phát triển dựa trên nhu cầu thị yếu của khách hàng và khách hàng là người hưởng lợi trực tiếp từ các sản phẩm dịch vụ đó, quyết định sự tồn tại của chúng cũng như chủ thể tạo ra chúng. Các lĩnh vực chính áp dụng Fintech Từ khi Fintech xuất hiện trên thế giới nó đã đem lại vô số những tiện ích cho khách hàng sử dụng và các nhà cung cấp như tiết kiệm thời gian giao dịch, chi phí hoạt động,…Các sản phẩm trong Fintech thường được phát triển theo thị yếu, nhu cầu đối tượng sử dụng Nhóm thứ nhất: các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, các công cụ kỹ thuật số và công nghệ khác để cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup.
Nhóm thứ hai: các sản phẩm công nghệ “back-office” nhằm hỗ trợ cho hoạt động của các Fintech và các định chế tài chính. Ngày này, Fintech không những cung cấp những dịch vụ thông thường như thanh toán điện tử (e-payments), cho vay, chuyển tiền,… mà còn cung cấp các dịch vụ trải rộng hơn như Định danh khách hàng điện tử (e-KYC); Cho vay ngang hàng (P2P Lending), Gọi vốn cộng đồng (crowd-funding), Giao diện lập trình ứng dụng mở (Open APIs), Quản trị dữ liệu (Data Management) và các giải pháp ứng dụng công nghệ Blockchain,… Tuy nhiên hiện nay Fintech mới chỉ tập trung nhiều vào các lĩnh vực chính sau đây: Thanh toán điện tử là lĩnh vực đầu tiên được các công ty Fintech nghiên cứu và phát triển. Thường là lĩnh vực phát triển nhất ở các quốc gia, đặc biệt là ở các Quốc gia có tỷ lệ người dân tiếp cận với dịch vụ tài chính, ngân hàng hay thanh toán ở mức thấp, vì một trong những giải pháp mà các công ty Fintech này mang lại là thanh toán không cần dùng tài khoản ngân hàng, chúng được xây dựng dựa trên các nền tảng của hệ thống điện thoại di động hay mạng Internet như thanh toán di động (Mobile payment), thanh toán qua QR code,… Giải pháp ứng dụng công nghệ Blockchain - phương pháp ghi và truyền tải dữ liệu cho tất cả các giao dịch một cách an toàn và được bảo vệ bởi hệ thống mã hóa vô cùng phức tạp, ngay cả khi một phần trong hệ thống Blockchain sụp đổ, những máy tính và các nút khác sẽ tiếp tục bảo vệ thông tin và dữ cho mạng lưới tiếp tục hoạt động. Dữ liệu được quản lý tự động bởi người sở hữu qua sổ cái phân tán hay còn 7 được gọi là sổ cái kế toán trong hoạt động kỹ thuật số.
Mọi người đều có thể kiểm tra dữ liệu nhưng không một ai có quyền điều khiển và sửa chữa trừ khi có sự đồng thuận của tất cả các nút trong hệ thống. Trong tương lai công nghệ Blockchain sẽ là công nghệ đầy tiềm năng đối với Fintech thế giới và cả Việt nam khi mà ứng dụng của chúng có thể ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực như tài chính ngân hàng, bán lẻ, y tế, giáo dục, sản xuất, viễn thông,… Ví dụ như áp dụng Blockchain vào sẽ giúp cho ngân hàng giảm được chi phí và thời gian thanh toán bù trừ giao dịch liên ngân hàng hay nhờ vào dữ liệu được ghi trên chuỗi Blockchain thì người bệnh có thể chuyển sang biện viện ở bất kỳ đâu khi mà thông tin hay kết quả xét nghiệm đều được lưu lại trên chuỗi,… Cho vay ngang hàng (Peer to peer Lending) là giải pháp được thiết kế và hoạt động trên nền tảng trực tuyến, kết nối trực tiếp người đi vay và người cho vay, công tác thẩm định được tiến hành trực tuyến dựa vào việc ứng dụng công nghệ Big Data từ đó rút ngắn thời gian thẩm định, giảm bớt chi phí, tăng hiệu quả hoạt động đối với người cho vay. Còn đối với người đi vay có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay khi khi họ không đủ điều kiện để tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tài chính truyền thống ví dụ như không đủ điều kiện hưởng lãi suất ưu đãi hay là khoản vay của họ quá nhỏ,… và giúp họ tránh được tình trạng phải vay tín dụng đen với lãi suất cao ngất ngưởng. Định danh khách hàng điện tử (e-KYC), thực hiện định danh khách hàng bằng phương thức điện tử không cần gặp mặt trực tiếp nhờ sự hỗ trợ của các công nghệ tiên tiến như kiểm tra, đối chiếu thông tin cá nhân tức thì với cơ sở dữ liệu tập trung về danh tính người dùng, xác thực OTP (One Time Password), xác thực sinh trắc học (Biometrics Authentication), nhận diện khách hàng nhờ trí tuệ nhân tạo (AI),… giúp các ngân hàng, tổ chức tài chính tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và nhân lực cho công tác này, đồng thời giúp khách hàng có trải nghiệm người dùng tốt hơn đối với dịch vụ ngân hàng.
Giao diện lập trình ứng dụng mở (Open APIs-Application Programming Interface) thiết lập một giao diện tương tác cho các Công ty Fintech dựa trên các thông tin được trích xuất từ corebanking của các ngân hàng mà không cần phải kết nối trực tiếp. Giải pháp này thỏa mãn yêu cầu của hai bên khi ngân hàng vẫn đảm bảo 8 được quyền quản lý toàn vẹn thông tin khách hàng đồng thời các công ty Fintech vẫn có đầy đủ thông tin để thực hiện xử lý giao dịch cho khách hàng của ngân hàng. Bigdata (Dữ liệu lớn) là khái niệm để chỉ tập hợp dữ liệu với kích thước vượt xa khả năng của các công cụ phần mềm thông thường để thu thập, hiển thị, quản lý và xử lý dữ liệu trong một thời gian có thể chấp nhận được. Như năm 2012 thì phạm vi một vài tá terabytes tới nhiều petabytes dữ liệu.