Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch của một địa phương. Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang. Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang đến năm 2020. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1.
Một số định nghĩa về du lịch Tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma-Italia (ngày 21/8 – 05/9/1963) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ” [6, Tr. Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức ldu lịch chính thức (Internatioal Union of Official Travel Oragnization - IUOTO) du lịch được hiểu là: “Hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống‟‟ [9, tr. Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “Hoạt động du lịch là tổng hoà các quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại phát triển kinh tế xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện” [9, tr.
Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005 thì: “Du lịch là một hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưởng trong một khoảng thời gian nhất định” [7, tr. Qua các định nghĩa nêu trên có thể rút ra một số điểm cần nhấn mạnh về du lịch như sau: 1. Vị trí vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương 1. Đối với kinh tế 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Con người là lực lượng chủ yếu của xã hội, hoạt động sản xuất là cơ sở để tồn tại của mọi xã hội.
Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp. Một mặc, nó góp phần vào việc phục hồi sức khỏe cũng như khả năng lao động và mặc khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt. Thông qua hoạt động nghỉ ngơi, du lịch tỷ lệ ốm đau khi làm việc giảm đi, tỷ lệ tử vong ở độ tuổi lao động hạ thấp và rút ngắn thời gian chữa bệnh, giảm số lần khám bệnh tại các bệnh viện. Ở các nước phát triển nguồn lao động gia tăng rất chậm.
Vì thế, sức khỏe và khả năng lao động trở thành nhân tố quan trọng đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó. Đối với xã hội Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Các công trình về sinh học khẳng định rằng, nhờ chế độ nghỉ ngơi tích cực, bệnh tật trung bình của dân cư giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981). Du lịch góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu thiên nhiên.
Sự phát triển của du lịch tác động nhiều đến các mặc văn hóa, xã hội của nơi đến. Ngược lại, du khách cũng chịu ảnh hưởng bởi sự tương phản, khác biệt về văn hóa, đời sống giữa các nước, các vùng họ đến thăm. Họ có cơ hội để tìm hiểu và học hỏi lối sống và phong tục tập quán của dân tộc khác. Du lịch được xem như nhân tố cũng cố hòa bình, đẩy mạnh mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc.
Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau. Hoạt động du lịch với các chủ đề khác nhau qua từ năm như: “Du lịch là giấy thông hành của hòa bình” (1967); “Du lịch không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983); “Du lịch, nhân tố đoàn kết giữa các dân tộc” (1992); “Du lịch, nhân tố của khoan dung và hòa bình” (1996) đã kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống giữa các 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với du khách, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Đối với môi trường Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và phục hồi môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người. Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp sự hùng vĩ, trong lành và nên thơ của các cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách.
Nó tạo cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường. Mặc khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Đến lượt mình, quá trình kích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên và đảm bảo điểu kiện sử dụng chúng một cách hợp lý. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ.
Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặc khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy, giữa du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau. Một số chỉ tiêu đánh giá hiện trạng phát triển du lịch của địa phương Các chỉ tiêu phản ánh hiện trạng phát triển du lịch của một địa phương có thể tính toán và đánh giá theo các chỉ tiêu như sau: 1. Một số yêu cầu và phạm vi phản ánh hiệu quả kinh tế + Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đánh giá sự đóng góp của du lịch vào nền kinh tế quốc dân: - Tổng doanh thu xã hội từ du lịch : Đây là chỉ tiêu tổng hợp thu nhập của toàn xã hội trong du lịch bao gồm doanh thu trực tiếp trong ngành du lịch và doanh thu gián tiếp ngoài ngành như dịch vụ taxi, quà lưu niệm, làm đẹp, hàng không.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tổng doanh thu thuần tuý của ngành du lịch: Đây là chỉ tiêu doanh thu từ các hoạt động chính của ngành du lịch như dịch vụ lữ hành, lưu trú, ăn uống. - Tổng lợi nhuận, tổng nộp ngân sách của ngành du lịch: Đây là chỉ tiêu khi tổng doanh thu trừ tất cả các chi phí, còn lại là lãi ròng hay còn gọi là tổng lợi nhuận. Trong đó một chỉ tiêu quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước là tổng thu được từ hoạt động du lịch thông qua thuế là bao nhiêu, để từ đó địa phương có sự đánh giá về thực trạng, cũng như tiềm năng của ngành du lịch để có kế hoạch đầu tư hợp lý trong thời gian tiếp theo. - Tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào GDP của nền kinh tế quốc dân: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, cũng như các ngành kinh tế khác, hoạt động du lịch mang lại doanh thu, lợi nhuận cho ngân sách trong tổng cơ cấu GDP kinh tế - xã hội của một địa phương.
- Thu nhập bình quân tính trên đầu người của ngành du lịch: Đây là chỉ tiêu lấy tổng lợi nhuận của ngành du lịch chia lại cho tổng số lao động trong ngành du lịch của một địa phương. Chỉ tiêu trên phản ánh về mực độ thu nhập của nguồn nhân lực trong ngành. + Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế so sánh ngành du lịch với các ngành khác: - So sánh hiệu quả xuất khẩu trong ngành du lịch với xuất khẩu của ngành ngoại thương: Trong thực tế xuất khẩu qua con đường ngoại thương phải tốn nhiều chi phí bao bì đóng gói, chi phí vận chuyển, thuế. Nhưng xuất khẩu qua con đường du lịch thì những chi phí như vậy giảm đi đáng kể.
- So sánh hiệu quả vốn đầu tư trong du lịch với hiệu quả vốn trong các ngành khác: Nếu như ngành nông nghiệp người dân phải mất công sức trồng lúa một khoảng thời gian khoảng 03 tháng mới đến ngày thu hoạch bán sản phẩm thì ngành dịch vụ du lịch nhiều nguồn thu được thực hiện trực tiếp. Chính vòng quay nhanh đồng vốn tiền mặt sẽ giúp doanh nghiệp tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất một cách nhanh chóng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - So sánh năng suất lao động trong du lịch với năng suất lao động của ngành khác. + Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch: - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế chung cho mọi loại hình kinh doanh: Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp của tổng thể các hoạt động của ngành du lịch mang lại.
- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho lĩnh vực kinh doanh lưu trú: Chỉ tiêu hiệu quả của kinh doanh lưu trú phản ánh trong tổng doanh thu của hoạt động du lịch thì lĩnh vực lưu trú chiếm tỷ trọng bao nhiêu phần trăm; nói ở góc độ hẹp hơn trong cơ sở kinh doanh khách sạn có rất nhiêu dịch vụ kèm theo thì doanh thu từ bộ phận buồng chiếm bao nhiêu phần trăm. - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho lĩnh vực kinh doanh ăn uống: Kinh doanh ẩm thực luôn đóng vai trò quan trọng đối với ngành du lịch, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh ẩm thực nói lên trong hoạt động kinh doanh du lịch thì doanh thu từ kinh doanh ăn uống đóng góp bao nhiêu phần trăm.