Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành du lịch trong những thập niên gần đây đã phát triển thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến trên phạm vi toàn cầu, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp quan trọng vào thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, với lợi thế ba phần tư lãnh thổ là đồi núi, hơn 3.000 km bờ biển, hệ thống sông hồ đa dạng cùng nền văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc trải rộng trên diện tích hơn 300.000 km², du lịch ngày càng khẳng định vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới.

Thành phố Hải Phòng là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, cửa ngõ giao thương đường biển và đầu mối giao thông huyết mạch của khu vực phía Bắc. Vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú tạo tiền đề thuận lợi để phát triển du lịch. Tuy nhiên, trong thực tiễn, tốc độ tăng trưởng du lịch của thành phố vẫn còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận "Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015" của sinh viên Trần Thị Ngân được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và đưa ra các định hướng giải pháp cụ thể.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tại Hải Phòng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến trong giai đoạn 2011 – 2015. Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên và tài nguyên du lịch của Hải Phòng.
  2. Khảo sát, đánh giá hiện trạng và các hoạt động du lịch trên địa bàn Hải Phòng.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị tiềm năng tự nhiên và nhân văn để tăng cường sức hấp dẫn của du lịch Hải Phòng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và thực trạng kinh doanh du lịch của thành phố Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao trùm địa bàn thành phố Hải Phòng gồm 7 quận nội thành và 8 huyện ngoại thành, hải đảo; phạm vi thời gian tập trung thu thập, đánh giá dữ liệu giai đoạn 2006 – 2010 và xây dựng giải pháp cho giai đoạn 2011 – 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm và cơ sở lý luận dựa trên các nguồn tài liệu chuyên ngành và văn bản quy phạm pháp luật:

  • Khái niệm du lịch được tiếp cận từ nguồn gốc thuật ngữ Hy Lạp (mang nghĩa "đi một vòng"), định nghĩa của nhà địa lý Belarus trong cuốn "Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan", định nghĩa tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma (1963), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và quy định tại Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm khách du lịch được phân loại thành khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm khu du lịch được đối chiếu giữa quan điểm quy hoạch địa lý của các nhà khoa học du lịch Trung Quốc và định nghĩa pháp lý tại Luật Du lịch năm 2005.
  • Khái niệm và vai trò của tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) được trích dẫn theo Luật Du lịch năm 2005 và giáo trình "Địa lý du lịch".
  • Các đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch: tính vô hình, sự cách biệt về không gian với nơi cư trú của khách, tính chất tổng hợp liên ngành, tính cố định không thể dịch chuyển, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng cùng tính thời vụ rõ rệt.
  • Bốn chức năng cơ bản của hoạt động du lịch: chức năng xã hội (du lịch hợp lý giúp giảm trung bình 30% bệnh tật chung, 40% bệnh hô hấp, 30% bệnh thần kinh, 20% bệnh tiêu hóa), chức năng kinh tế, chức năng môi trường và chức năng chính trị.
  • Các căn cứ chính sách: Nghị quyết số 45/CP của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch, Chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và chủ trương xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng.

Tác giả sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết nhiệm vụ đề tài:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tập hợp, phân loại, so sánh và chọn lọc các tài liệu, số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý và nghiên cứu chuyên ngành.
  • Phương pháp tiếp cận và phân tích, hệ thống: Phân tích các mối quan hệ giữa tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nhân lực và hiệu quả kinh doanh du lịch nhằm xác định các chỉ tiêu thích hợp.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế các tuyến điểm, di tích, danh thắng và cơ sở dịch vụ trên địa bàn thành phố để kiểm chứng dữ liệu và đánh giá thực tiễn hoạt động du lịch.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận chủ yếu là báo cáo thống kê chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng, Niên giám thống kê thành phố và các công trình khảo cứu địa lý, văn hóa, lịch sử địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn du lịch

Chương này tổng kết cơ sở lý luận chung về du lịch. Tác giả phân tích các tiêu chí phân loại loại hình du lịch: căn cứ theo môi trường tài nguyên (du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên); theo mục đích chuyến đi (tham quan, thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng, khám phá, lễ hội, tôn giáo, chữa bệnh, thăm thân, kinh doanh); theo phạm vi lãnh thổ (du lịch quốc tế và du lịch nội địa); theo đối tượng khách (thanh thiếu niên, người cao tuổi, phụ nữ, gia đình); theo hình thức tổ chức (theo đoàn, cá nhân); theo phương tiện giao thông (xe đạp, xe máy, máy bay, tàu hỏa, tàu thủy); theo độ dài chuyến đi (ngắn ngày, dài ngày) và theo loại hình lưu trú (khách sạn, lều trại, làng du lịch).

Chương 1 cũng làm rõ 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển du lịch, bao gồm: dân cư và lao động, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu nghỉ ngơi giải trí, thời gian rỗi, trình độ dân trí, điều kiện sống và quá trình đô thị hóa, chính sách phát triển du lịch, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Phân tích vai trò của du lịch đối với nền kinh tế quốc dân và tác động tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm tại thành phố Hải Phòng.

Chương 2: Tài nguyên du lịch Hải Phòng và thực trạng du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010

Chương này trình bày chi tiết về tài nguyên du lịch và hiện trạng ngành du lịch thành phố thông qua hệ thống số liệu cụ thể:

  • Về tài nguyên tự nhiên: Hải Phòng có tọa độ từ 20°30' đến 21°01' vĩ Bắc, 106°25' đến 107°10' kinh Đông; cách Hà Nội 102 km; diện tích tự nhiên 1.519 km² (chiếm 0,46% diện tích cả nước) với 7 quận nội thành và 8 huyện (trong đó có 2 huyện đảo). Địa hình chia 3 khu vực: khu vực lục địa và hải đảo (vùng núi thấp Cát Bà, Long Châu chiếm 10% diện tích, đỉnh cao nhất 331m, sườn dốc trên 50° chiếm 89%, độ chia cắt sâu 80 - 200m; vùng đồi Thủy Nguyên chiếm 5%; vùng đồng bằng chiếm 85% diện tích với độ cao trung bình 0,8 - 1,2m); đới bờ biển hiện đại (bờ dốc Cát Bà - Long Châu - Bạch Long Vĩ dài 200 km, bờ thoải Phù Long - sông Thái Bình dài 100 km); đới bờ cổ bị ngập nước. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 20 - 23°C (tháng 11 - 12 lạnh nhất đạt 10 - 18°C), lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm, số giờ nắng 1.800 giờ/năm, độ ẩm 84 - 88%. Thủy văn có mật độ sông suối 0,6 - 0,8 km/km² (sông Đá Bạc, Giá, Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình). Vùng biển có chế độ nhật triều (11 ngày/tháng), mức triều cực đại đạt 4,3m tại Cát Bà và cảng Hải Phòng, 5m tại Vạn Hoa. Đa dạng sinh học nổi bật tại Vườn quốc gia Cát Bà với 754 loài thực vật bậc cao (thuộc 495 chi, 149 họ) và hệ động vật phong phú gồm 20 loài thú, 69 loài chim, 15 loài bò sát, 11 loài ếch nhái, 105 loài cá, 100 loài thân mềm, 60 loài giáp xác; diện tích bãi triều ven biển đạt khoảng 11.000 ha.
  • Về tài nguyên nhân văn: Thành phố có trên 400 di tích (đến tháng 5/1999 có 91 di tích được xếp hạng cấp quốc gia). Các di tích tiêu biểu gồm Khu di tích đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo), danh thắng Núi Voi (huyện An Lão), đình Kiền Bái (huyện Thủy Nguyên), tháp Tường Long và đền Bà Đế (quận Đồ Sơn), đình Hàng Kênh, đền Nghè. Hệ thống lễ hội truyền thống đặc sắc: Lễ hội vật cầu Kim Sơn (mùng 6 tháng Giêng, quả cầu chuối hột nặng 20 kg bọc giấy hồng điều, thi đấu giữa 3 giáp Đượng, Nam, Bắc); Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (chính hội 9/8 âm lịch, phục hồi năm 1990, được công nhận là 1 trong 15 lễ hội quốc gia); Lễ hội hát đúm Tổng Phục (mùng 4 đến mùng 10 tháng Giêng tại Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ); Lễ hội Núi Voi (15 - 17 tháng Giêng âm lịch với giải vật truyền thống Cúp Báo Hải Phòng lần thứ 14). Về làng nghề: làng nghề đúc Mỹ Đồng (Thủy Nguyên) có tốc độ tăng trưởng 15 - 20%/năm, thu nhập tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 95%, có gần 100 hộ đúc gang, 15 hộ đúc đồng, sản lượng trên 20.000 tấn/năm, giá trị 500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 3.000 lao động với thu nhập 2,5 - 3 triệu đồng/tháng; ngoài ra còn có thảm len Hàng Kênh, dệt Cổ Am, điêu khắc Đồng Minh, gốm Dưỡng Động. Dân số toàn thành phố trên 1,8 triệu người, mật độ 1.075 người/km²; lực lượng lao động 760.000 người (nội thành chiếm gần 500.000 người; 80.000 người có tay nghề bậc 3 trở lên; 27.000 người có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học).
  • Về thực trạng hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Đến năm 2010, toàn thành phố có 252 cơ sở lưu trú với 6.566 phòng (trong đó 3.810 phòng đạt tiêu chuẩn 1 - 4 sao), 115 khách sạn có quy mô trên 15 phòng, 12 khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên; công suất sử dụng phòng bình quân đạt 49,5% - 50%. Chỉ có 6 khách sạn đạt quy mô trên 100 phòng (Hữu Nghị, Harbour View, Holiday View, Nam Cường, Làng quốc tế Hướng Dương, Nhà khách Hải Quân). Cơ sở vui chơi giải trí còn hạn chế, các điểm giải trí quy mô như Hòn Dáu, Sông Giá Resort mới bắt đầu vận hành. Về giao thông, Quốc lộ 5 và Quốc lộ 10 xuống cấp; sân bay Cát Bi đường băng ngắn, nhà ga hạn chế; sân bay Kiến An chưa khai thác dân dụng. Hệ thống điện phủ lưới 14/15 quận huyện (trừ Bạch Long Vĩ dùng sức gió và diesel); hệ thống cấp nước nhận viện trợ của Phần Lan đang trong quá trình cải tạo; hệ thống bưu chính viễn thông có tổng đài điện tử 5.000 số.
  • Về nguồn nhân lực và quản lý: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 2 phòng chuyên môn về du lịch với 14 cán bộ (10/14 cán bộ dưới 10 năm kinh nghiệm công tác; ngoại ngữ chủ yếu là tiếng Anh). Cấp quận huyện chỉ có Đồ Sơn và Cát Hải có cán bộ chuyên trách du lịch, 13 quận huyện còn lại là cán bộ kiêm nhiệm. Toàn ngành có 38.945 lao động trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng (chiếm 4% tổng lao động thành phố). Khối lưu trú có 5.304 lao động (lao động qua đào tạo nghiệp vụ chiếm 38,8% với 2.058 người; trình độ đại học chuyên ngành chiếm 7,3% với 386 người). Khối lữ hành có 520 lao động nhưng chỉ có 26 người có thẻ hướng dẫn viên du lịch (dù Sở đã cấp và đổi 127 thẻ, nhưng nhân sự bị chuyển dịch về Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh). Cơ sở đào tạo gồm Đại học Hải Phòng, Đại học Dân lập Hải Phòng, Cao đẳng Du lịch và Dịch vụ (tuyển sinh 500 - 600 học sinh/năm).
  • Về kết quả kinh doanh giai đoạn 2006 - 2010: Tốc độ tăng trưởng khách du lịch bình quân đạt trên 14%/năm (khách nội địa tăng 15%/năm, chiếm 80% thị phần; khách quốc tế tăng 12%/năm, chiếm 20% thị phần). Khách quốc tế chủ yếu đến từ Trung Quốc (từ năm 1996 - 1997 được áp dụng quy chế giấy thông hành qua cửa khẩu Móng Cái và cảng biển, lượng khách Trung Quốc tăng từ hơn 10.000 lượt năm 1997 lên 125.000 lượt năm 2000, chiếm 61% khách quốc tế). Tổng doanh thu du lịch tăng từ 728,408 tỷ đồng năm 2006 lên 1.000 tỷ đồng năm 2010.

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015

Trên cơ sở các tồn tại được xác định ở Chương 2, tác giả đề xuất định hướng phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015 tập trung vào các nhóm nội dung:

  • Tổ chức không gian và phát triển sản phẩm: Khai thác tuyến du lịch trọng điểm Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long gắn kết với các tuyến du lịch nội thành và du khảo đồng quê (Núi Voi – Tiên Lãng – Vĩnh Bảo); xây dựng các sản phẩm du lịch biển, du lịch sinh thái rừng ngập mặn và du lịch tham quan làng nghề nhằm khắc phục tính thời vụ.
  • Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Đẩy nhanh tiến độ cải tạo tuyến Quốc lộ 5, Quốc lộ 10; nâng cấp đường băng và nhà ga cảng hàng không Cát Bi; đầu tư nâng cấp lưới điện nội thành và mở rộng dự án nước sạch.
  • Nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú và dịch vụ bổ trợ: Thu hút nguồn vốn đầu tư các khách sạn quy mô lớn trên 100 phòng đạt chuẩn quốc tế, kiểm soát chất lượng trang thiết bị nội thất và nâng cao công suất sử dụng buồng phòng.
  • Phát triển và chuẩn hóa nguồn nhân lực: Đổi mới chương trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo theo hướng tăng thời lượng thực hành và đào tạo ngoại ngữ; bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm cấp quận huyện; ban hành chính sách đãi ngộ nhằm giữ chân đội ngũ hướng dẫn viên có thẻ hành nghề.
  • Tăng cường xúc tiến quảng bá và liên kết thị trường: Thành lập quỹ xúc tiến, tổ chức khảo sát thị trường bài bản; đổi mới nội dung các lễ hội truyền thống (Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, Hội vật cầu Kim Sơn) để thu hút khách quốc tế; tăng cường liên kết thực chất với các địa phương trong vùng du lịch Bắc Bộ (Hà Nội, Quảng Ninh).
  • Bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái: Quản lý nghiêm ngặt việc khai thác đá vôi, bảo tồn khu vực rừng 570 ha vùng lõi Vườn quốc gia Cát Bà, ngăn chặn phá rừng ngập mặn ven biển và tu bổ di tích lịch sử đúng quy chuẩn kiến trúc cổ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các chỉ tiêu thống kê chủ yếu về năng lực cơ sở lưu trú và kết quả kinh doanh du lịch của Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010:

Chỉ tiêu thống kê Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số lượng cơ sở lưu trú Cơ sở 198 201 212 214 252
Tổng số phòng lưu trú Phòng - - - - 6.566
Số khách sạn trên 15 phòng Khách sạn 93 100 106 110 115
Số khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên Khách sạn 10 11 12 12 12
Công suất sử dụng phòng bình quân % 39,1 40,1 51,1 51,5 49,5
Doanh thu du lịch Tỷ đồng 728,408 - - - 1.000

Khóa luận mang lại các đóng góp nghiên cứu cụ thể mà tác giả đã khẳng định:

  • Nghiên cứu và hệ thống hóa toàn diện các điều kiện tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật biển) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề và đặc điểm dân cư) trên địa bàn Hải Phòng.
  • Đánh giá cụ thể thực trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, thực trạng nguồn nhân lực và kết quả kinh doanh của ngành du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010.
  • Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp có tính ứng dụng thực tiễn nhằm phát huy tiềm năng tự nhiên và nhân văn, định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2011 – 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế tại thời điểm thực hiện:

  • Công tác nghiên cứu và dữ liệu điều tra thị trường du lịch còn hạn chế; văn bản chưa cung cấp đầy đủ chuỗi số liệu chi tiết qua các năm đối với lượt khách lữ hành và cơ cấu chi tiêu của từng phân khúc du khách quốc tế ngoài thị trường Trung Quốc.
  • Số liệu khảo sát về di tích và mật độ bảo tồn tại một số quận, huyện chưa được cập nhật đồng đều qua các năm (sử dụng số liệu xếp hạng năm 1999).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Nghiên cứu sâu về phân khúc thị trường khách du lịch quốc tế có khả năng chi trả cao (Tây Âu, Đông Bắc Á) nhằm giảm sự phụ thuộc vào một thị trường nguồn đơn lẻ.
  • Đánh giá tác động của các dự án giao thông trọng điểm (mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng) đối với khả năng thu hút khách du lịch giai đoạn sau năm 2015.
  • Đánh giá sức chứa du lịch và tác động môi trường tại các khu vực nhạy cảm sinh thái như Vườn quốc gia Cát Bà và các bãi triều ven biển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Du lịch và Quản lý Văn hóa đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về du lịch duyên hải hoặc phát triển kinh tế địa phương.

Nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho các cán bộ quản lý nhà nước về du lịch cấp quận huyện, các chuyên viên xúc tiến du lịch và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú tại khu vực Duyên hải Bắc Bộ. Trong đó, các phần đáng lưu ý gồm:

  • Hệ thống dữ liệu chi tiết về đặc điểm hải văn, địa hình karst Cát Bà và tài nguyên sinh thái ven biển Hải Phòng.
  • Báo cáo khảo cứu về các lễ hội dân gian mang tính đặc trưng vùng miền cao như Hội vật cầu Kim Sơn, Hội chọi trâu Đồ Sơn và Hội hát đúm Tổng Phục.
  • Đánh giá thực trạng mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và sử dụng lao động du lịch giai đoạn 2006 – 2010.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lưu trú du lịch Hải Phòng có sự biến động như thế nào trong giai đoạn 2006 – 2010?
Số lượng cơ sở lưu trú tăng từ 198 cơ sở năm 2006 lên 252 cơ sở năm 2010. Tổng năng lực lưu trú năm 2010 đạt 6.566 phòng (với 3.810 phòng đạt chuẩn từ 1 đến 4 sao). Khách sạn có trên 15 phòng tăng từ 93 lên 115 cơ sở; khách sạn từ 3 sao trở lên tăng từ 10 lên 12 cơ sở. Toàn thành phố chỉ có 6 khách sạn đạt quy mô trên 100 phòng, công suất sử dụng phòng bình quân toàn giai đoạn dao động quanh mức 39,1% đến 51,5%.

2. Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ ngành du lịch Hải Phòng có những bất cập gì?
Toàn thành phố có 38.945 lao động trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng. Trong số 5.304 lao động tại các cơ sở lưu trú, tỷ lệ qua đào tạo nghiệp vụ chỉ đạt 38,8% (2.058 người) và trình độ đại học chuyên ngành chỉ chiếm 7,3% (386 người). Tại các công ty lữ hành, trong tổng số 520 lao động chỉ có 26 người có thẻ hướng dẫn viên du lịch do xảy ra tình trạng chuyển dịch lao động sang các trung tâm du lịch khác như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Quảng Ninh.

3. Tài nguyên sinh thái của Vườn quốc gia Cát Bà được ghi nhận với những thông số nào?
Vườn quốc gia Cát Bà sở hữu 754 loài thực vật bậc cao thuộc 495 chi và 149 họ, bao gồm các loài quý hiếm như lát hoa, kim giao, đinh. Hệ động vật ghi nhận 20 loài thú, 69 loài chim, 15 loài bò sát, 11 loài ếch nhái, 105 loài cá, 100 loài thân mềm và 60 loài giáp xác. Vùng rừng núi đá vôi hiểm trở ở phía đông có diện tích bảo tồn nguyên sinh khoảng 570 ha.

4. Lễ hội vật cầu Kim Sơn và Hội hát đúm Tổng Phục được tổ chức với quy cách như thế nào?
Lễ hội vật cầu Kim Sơn diễn ra ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch, sử dụng quả cầu làm bằng củ chuối hột già nặng 20 kg bọc giấy hồng điều vẽ tứ linh; sới vật hình con nhạn bằng cát đen; 3 giáp (Đượng, Nam, Bắc) mỗi giáp cử 1 tổng cờ và 5 đô vật thi đấu trong 3 hiệp (mỗi hiệp 3 phút). Hội hát đúm Tổng Phục (xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ) diễn ra từ ngày mùng 4 đến mùng 10 tháng Giêng, là dịp các cô gái tháo khăn mỏ quạ bịt mặt ("hội mở mặt") để hát đối đáp giao duyên theo thể thơ lục bát và song thất lục bát.

5. Làng nghề đúc Mỹ Đồng đóng góp ra sao vào cơ cấu kinh tế địa phương huyện Thủy Nguyên?
Làng nghề đúc Mỹ Đồng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 15 - 20%/năm; tỷ trọng thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 95%. Xã có gần 100 hộ đúc gang, 15 hộ đúc đồng; sản lượng hàng năm đạt trên 20.000 tấn, giá trị sản xuất khoảng 500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 3.000 lao động với mức thu nhập bình quân từ 2,5 đến 3 triệu đồng/người/tháng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Ngân đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và khảo sát chi tiết nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn của thành phố Hải Phòng. Thông qua hệ thống số liệu giai đoạn 2006 – 2010, tác giả đã phản ánh toàn diện thực trạng phát triển cơ sở lưu trú, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, định hướng quản lý và phát triển du lịch Hải Phòng trong giai đoạn 2011 – 2015.