CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC VĂN HÓA THÔNG TIN 1. Khái niệm doanh nghiệp Ở Việt Nam, theo Sắc lệnh 104/SL ngày 01/01/1948 về doanh nghiệp quốc gia, bắt đầu xuất hiện chủ thể doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, trải qua giai đoạn kinh tế kế hoạch hoá tập trung, người ta dần lãng quên cách gọi chủ thể tham gia kinh tế là doanh nghiệp mà thay vào đó là đơn vị kinh tế, xí nghiệp, cơ quan kinh tế. Chủ thể doanh nghiệp được sử dụng phổ biến và rộng rãi chỉ khi Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời, hành lang pháp lý giai đoạn sau đã xác định doanh nghiệp là một chủ thể pháp lý được thành lập và đăng ký kinh doanh nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh theo Luật công ty năm 1990 hay Luật doanh nghiệp năm 1999. Theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Hiện nay các doanh nghiệp trên thị trường đa số đều thực hiện quá trình sản xuất và kinh doanh, cung cấp các dịch vụ thế mạnh để sinh lời. Những doanh nghiệp này được xem là một tổ chức kinh tế vị lợi.
Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. - Đặc điểm doanh nghiệp: Mỗi loại hình doanh nghiệp mang những đặc điểm riêng nổi bật, tuy nhiên chúng đều có những đặc điểm chung sau đây: ● Doanh nghiệp được thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục pháp lý nhất định; phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kinh doanh và nhận giấy phép đăng ký thành lập khi muốn thành lập công ty. Khi doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh thì doanh nghiệp được công nhận hoạt động kinh doanh, được pháp luật bảo hộ và chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liên quan. Hiện tại, tuỳ thuộc tính 6 chất của mỗi loại chủ thể kinh doanh mà pháp luật quy định thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh riêng; ● Được thừa nhận là thực thể pháp lý; có thể tham gia quan hệ pháp luật.
Doanh nghiệp được tham gia vào tất cả các quan hệ trong giao lưu dân sự cũng như các quan hệ tố tụng; ● Chức năng, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là kinh doanh. Doanh nghiệp được thực hiện các hoạt động kinh doanh như sản xuất, mua bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu thu lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội. Nơi có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp là Phòng Đăng ký Kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh. ● Doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thường xuyên.
Hầu hết các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục đích tạo ra lợi nhuận qua việc mua bán, sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ để phục vụ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp xã hội đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường ví dụ như các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh, internet… ● Doanh nghiệp có tính tổ chức. Tính tổ chức thể hiện qua việc có tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý, kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân. - Các loại hình doanh nghiệp: dựa theo quy định của pháp luật tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp 2020 ở Việt Nam hiện tại có 04 loại hình doanh nghiệp phổ biến sau: ● Công ty trách nhiệm hữu hạn: bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (công ty TNHH 1 thành viên) và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (công ty TNHH 2 thành viên).
Thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm về tài sản và các khoản nợ trong phạm vi số vốn điều lệ. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công 7 ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức ở trong nước hoặc nước ngoài và phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật đề ra.
Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên phải chịu trách nhiệm về tài sản trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Và vốn điều lệ của công ty TNHH tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng tài sản chủ sở hữu cam kết góp. Công ty TNHH một thành viên có thể huy động vốn bằng các cách như sau: Huy động vốn vay từ các tổ chức, cá nhân; Huy động bằng cách phát hành trái phiếu; Chủ sở hữu đưa thêm vốn vào doanh nghiệp. Đặc biệt là công ty TNHH một thành viên không được phép hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Theo khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 51, 52 và 53 của Luật này. Công ty TNHH hai thành viên trở lên chịu trách nhiệm tài sản với toàn bộ số vốn góp vào doanh nghiệp, thành viên của công ty chịu trách nhiệm theo phần vốn đã góp.
Cách thức huy động vốn của Công ty TNHH hai thành viên giống quy định của Công ty TNHH một thành viên. Đồng thời, thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình nhưng phải tuân theo những điều kiện, điều lệ nhất định của doanh nghiệp.” ● Công ty cổ phần Theo khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Công ty cổ phần là một doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu được cấu thành từ những phần bằng nhau. Những phần này được gọi là cổ phần, mỗi cổ phần là vốn góp từ các cá nhân hoặc tổ chức, các chủ thể này được gọi là cổ đông. Số cổ phần sở hữu sẽ tương ứng với phần trách nhiệm của 8 cổ đông đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
⇨ Các loại cổ phần hiện có theo quy định pháp luật là: Cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại. Về huy động vốn, Công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng nhiều phương thức khác nhau như: phát hành các loại trái phiếu, các loại cổ phiếu… các cổ đông trong công ty cổ phần có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho chủ thể khác nhưng phải tuân thủ theo điều lệ cũng như quy định của công ty và quy định pháp luật. ● Công ty hợp doanh Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên công ty chung (sau đây gọi là thành viên hợp doanh). Ngoài các thành viên hợp doanh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có thể là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Tuy nhiên tài sản công ty và tài sản thành viên hợp danh có sự độc lập và tách biệt. Công ty hợp danh tăng vốn điều lệ bằng cách kết nạp thêm thành viên, tăng phần vốn góp của các thành viên hoặc tăng giá trị tài sản công ty hoặc đi vay, đặc biệt là cũng không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Các thành viên hợp danh và góp vốn có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho các thành viên hợp danh và góp vốn còn lại trong công ty. Nếu chuyển nhượng cho người ngoài công ty thì phải được các thành viên còn lại đồng ý. ● Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Người tạo lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật quy định phải là cá nhân, đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mang quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, không đang thực hiện nghĩa vụ vi phạm pháp luật nào.
Doanh nghiệp tư nhân tăng vốn 9 điều lệ bằng cách tăng phần vốn góp của chủ sở hữu công ty hoặc tăng giá trị tài sản công ty hoặc đi vay, đặc biệt là không được phát hành cổ phiếu. Về phần chuyển nhượng vốn được quy định như công ty hợp danh. Khái niệm doanh nghiệp văn hóa thông tin Theo Nghị định số 96-CP của Hội đồng Chính phủ về tổ chức của ngành văn hoá và thông tin, cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ văn hoá và thông tin được trình bày trong sơ đồ sau: Các vụ tổng hợp và nghiệp vụ Các cục Các đơn vị, Bộ văn hóa và quản lý sự sản xuất thông tin nghiệp kinh doanh Các đơn vị sự nghiệp Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ văn hóa và thông tin Nguồn: Tác giả tổng hợp 10 - Các vụ tổng hợp và nghiệp vụ bao gồm: ▪ Văn phòng Bộ; ▪ Vụ tổ chức và cán bộ; ▪ Vụ kế hoạch và đầu tư; ▪ Vụ tài vụ - kế toán – thống kê; ▪ Vụ đào tạo; ▪ Vụ đối ngoại; ▪ Vụ nghệ thuật sân khấu; ▪ Vụ âm nhạc và múa; ▪ Vụ bảo tồn, bảo tàng; ▪ Vụ mỹ thuật, Ban thanh tra.