CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET VE KE TOÁN QUAN TRI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIEP THUONG MAI 1. BAN CHAT VA SU CAN THIET CUA KE TOAN QUAN TRI 1. Chi phí va kế toán quản trị chi phí a. Chỉ phí Có nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến chi phí.
Theo Hội đồng chuẩn mực quốc tế (IASC): “Chi phí là các yêu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dưới hình thức xuất đi hay giảm giá trị Tài sản hay làm phát sinh các khoản nợ, kết quả là làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không đo việc phân phối nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu” (Hoàng Bích Diệp, 2017). Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 01(VAS 01) - Chuẩn mực chung quy định: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán đưới hình thức các khoản tiền chỉ ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo định nghĩa này, chỉ phí được nhìn nhận dưới góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Bộ Tài chính, 2002). Theo Điều 82, Thông tư 200/2014/TT-BTC quy dinh“Chi phi là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phânbiệt đã chi tiền hay chưa” (Bộ Tài chính, 20 14).
Theo Nguyễn Ngọc Quang (2014), giáo trình Kế toán quản trị cho rằng: Chỉ phí sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về lao động vật hóa, lao động sóng và các chỉ phi cần thiết khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình san xuất và tiêu thụ sản phẩm của từng kỳ kế toán nhất định theo những loại giá phí khác nhau tùy thuộc vào những mục tiêu được ấn định cho việc quản lý doanh nghiệp. Như vậy, dưới những góc độ khác nhau có nhiều quan điểm khác nhau về chi phí nhưng nói chung đều thé hiện bản chất của chi phí là các yếu tô hao phí trong hoạt động của doanh nghiệp dé tạo nên những kết quả kinh doanh mà đơn vị mong muốn. KẾ toán quản trị chỉ phí Theo Luật Kế toán Việt Nam năm 2015, bộ Luật số 88/2015/QH13, kế toán quản trị được định nghĩa như sau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán ”. Định nghĩa này mang tính mô tả quy trình thực hiện của kế toán quản trị, giúp doanh nghiệp dễ nắm bắt và thực hiện theo, phù hợp với giai đoạn và trình độ phát triển hiện nay của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp ở Việt Nam (Quốc Hội, 2015).
Theo giáo trình kế toán quản trị của Đại học kinh tế Quốc dân định nghĩa: “kế toán quản trị là quy trình định dạng, đo lường, tông hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc đề lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp va dé dam bao cho việc sử dụng hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này” (Nguyễn Ngọc Quang, 2014). Như vậy, có thể hiểu kế toán quản trị như là một phân hệ thuộc kế toán với mục tiêu cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ yêu cầu quản trị công ty của các cấp quản trị trong doanh nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả tài 10 sản trong đơn vị. Trong đó, kế toán quản trị chỉ phí là một trong hai đối tượng cần đặc biệt quan tâm dé có thể đạt được mục tiêu của doanh nghiệp (trong mối quan hệ: doanh thu — chi phí = lợi nhuận). Chính vì vậy, công tác quản tri chỉ phí là rất quan trọng.
Dựa trên cơ sở khái niệm kế toán quan trị, kế toán quản trị chỉ phí là quá trình đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải trình số liệu về chỉ phí phát sinh trong doanh nghiệp cho ban giám độc dé lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá thực hiện kế hoạch nhằm đạt kết quả cao với mức chỉ phí tối thiểu. Vai trò của kế toán quản trị trong hệ thống quản lý doanh nghiệp Do nhiệm vụ của quản trị doanh nghiệp là ra các quyết định nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển liên tục và bền vững của doanh nghiệp, đồng thời quản trị doanh nghiệp thường xuyên kiểm soát được việc ra các quyết định đó thì cần phải được cung cấp đầy đủ những thông tin kế toán quản trị. Bởi vậy, trong hệ thống quản lý doanh nghiệp, kế toán quản trị có những vai trò chủ yếu sau đây: - Cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch. Như vậy, kế toán quản trị có vai trò lớn trong việc cung cấp những thông tin nền tảng, giúp quản trị doanh nghiệp có những căn cứ khoa học vững chắc cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất — kinh tế - tài chính một cách chính xác và toàn diện.
- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp đánh giá mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ sở đó, có những căn cứ xác thực đẻ đề ra các quyết định kinh doanh hợp lý và có hiệu quả. Đặc biệt, giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh ll giá kết quả của từng trung tâm trách nhiệm về chi phí trong doanh nghiệp. - Kế toán quản trị cung cấp hệ thống tài liệu dự toán sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện các dự toán ngân sách doanh nghiệp, giúp quản trị phát hiện ra những khả năng tiềm tàng và tìm mọi biện pháp dé huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của đoanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Với chức năng chọn lọc và ghi chép số liệu, phân tích các số liệu, lập các báo cáo kết quả kinh doanh, kế toán quản trị có vai trò rất lớn đối với công tác quản lý trong nội bộ doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2014). Sự cần thiết của kế toán quan trị chỉ phí trong doanh nghiệp Với bat kỳ một đoanh nghiệp nao thì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cũng được ưu tiên hàng đầu, vì vậy sử dụng tài sản trong đơn vị sao cho tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí là van dé cần thiết phải được nhà quản trị ưu tiên. Công tác kế toán quản trị chỉ phí sẽ giúp cho đoanh nghiệp quản lý chỉ phí hiệu qua bằng những công việc cụ thé trong việc lập kế hoạch, kiểm soát quá trình kinh doanh, đánh giá các hoạt động, đưa ra các quyết định quản lý từ đó dự đoán những ảnh hưởng tới mục tiêu kinh doanh để kịp thời điều chỉnh. Kế toán quản trị với mục tiêu xây dựng một hệ thống quản lý mở, trong đó các nguyên tắc vận hành doanh nghiệp không quá chặt chẽ khuôn phép như đối với kế toán tài chính, nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý công ty, do vậy tùy vào yêu cầu của nhà quan lý, kế toán quản trị chỉ phí sẽ cung cấp các dạng thông tin khác nhau liên quan đến việc quản trị chỉ phí trong doanh nghiệp.
QUY TRINH KE TOÁN QUAN TRI VÀ KE TOÁN QUAN TRI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP THUONG MẠI 1. Quy trình quản trị doanh nghiệp Với chức năng quản trị doanh nghiệp, quy trình quản trị doanh nghiệp 12 được thực hiện theo trình tự gồm 4 bước lặp đi lặp lại trong suốt quá trình vận hành doanh nghiệp, bao gồm các bước sau đây: - Lập kế hoạch: Đây là bước đầu tiên đối với các nhà quán trị doanh nghiệp. Hàng năm, quản trị doanh nghiệp phải lập kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, kinh tế - tài chính, dau tư. nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch: Để thực hiện được chức năng này, quản trị doanh nghiệp luôn cần một lượng thông tin rất lớn. Đặc biệt là những thông tin phát sinh hằng ngày dé kịp thời điều chỉnh, tổ chức thực hiện như: thông tin về giá bán sản phẩm, thông tin giá cả các yếu tố đầu vào, thông tin về năng suất, chat lượng sản phẩm. - Kiểm tra giám sát: Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch, nhà quản trị đoanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra. Qua việc kiểm tra, giám sát này, giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu của công tác tổ chức thực hiện kế hoạch.
Trên cơ sở đó, tìm mọi biện pháp khắc phục hướng đến các mục tiêu đã đề ra. - Ra quyết định: Việc ra quyết định là chức năng cơ bản và thường xuyên của quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, có thể xảy ra những tình huống bất ngờ, việc lựa chọn ra quyết định như thế nào sẽ chịu ảnh hưởng lớn bởi các thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định đó là thông tin của kế toán quản trị. Với những chức năng trên của quá trình quản trị, có thể thấy, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần có những thông tin của kế toán quan trị dé cung cấp và phục vụ cho nhà quản trị trong quá trình ra các quyết định của mình (Nguyễn Năng Phúc, 2014).
Quy trình của kế toán quản trị Với chức năng thu thập, xử lý và cung cấp thông tin, quy trình kế toán quản trị luôn gắn liền với quy trình quản trị doanh nghiệp, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm thúc đây quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển. Cụ thể, quy trình của kế toán quản trị được thể hiện theo trình tự sau: - Xây dựng hệ thống chỉ tiêu: Để cung cấp cho nha quản trị doanh nghiệp một lượng lớn thông tin một cách có hệ thống, kế toán quản trị trước hết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu thông tin một cách đầy đủ, chính xác và toàn diện.