Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại Viễn thông Đà Nẵng Chương 3: Giả pháp hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại Viễn thông Đà Nẵng CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAN TÍCH HIEU QUA HOAT DONG TRONG DOANH NGHIEP 11. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUÁ HOAT DONG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới: nó có nội dung khác nhau ở lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, năng suất.
Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh gía bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc lả bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.Nordhaus thì: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao.
Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nảo cao hơn nữa. Với quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết qủa đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Trong quan điểm này nhà kinh tế người Anh đã đánh đồng hiệu quả và kết quả mà thật ra giữa chúng có sự khác biệt. Theo ông thì các mức.
chỉ phí khác nhau mà mang lại củng một kết quả thì có hiệu quả như nhau. Như vậy Adam Smith mới chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra mà chưa quan tâm đến các yếu tố đầu vào. Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tý số giữa kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra đề có được kết quả đó. Điển hình cho.
quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: *Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia chỉ chỉ phí kinh doanh”, Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh đạt được/Chỉ phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. 'Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị.
Theo hai ông thì hai khái niệm nảy hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg.) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật .) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật". “Mỗi quan hệ tỷ lệ giữa chỉ phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chỉ phí kinh doanh thực tế phải chỉ ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thảnh tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng °. Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính lả năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu.
quả hoạt động quản trị chỉ phí. Theo cuốn giáo trình Kinh tế thương mai dich vu - NXB Thống kê 1998, có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”. So với các quan điểm trên thì quan điểm này phản ánh tốt trình độ lợi dụng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến đổi. Cũng theo quan điểm này thì có thể xác định được hiệu quả sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến động.
Từ các quan điềm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những. chỉ phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này cảng lớn thì hiệu quả càng cao. Với khái niệm tác giả đưa ra thi theo quan điểm của tác giả, hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường theo cả tương đối và tuyệt đối. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh (Nguyễn Ngọc Huyền, 2013). Hiệu quả hoạt động được xem xét toàn diện trên nhiều yếu tố, trong đó gồm có hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh sao cho lợi nhuận đem lại nhiều nhất trong việc sử dụng tối ưu hóa các nguồn lực. 10 Công thức chung dùng đẻ đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh: Hiệu qua = Kết quả đầu ra/ Yếu tố đầu vào.
Công thức này phản ánh mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhêu đơn vị đầu ra và được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chỉ phí thường xuyên đến kết quả kinh tế. Bên cạnh đó, đề đo lường hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng có thể sử dụng công thức: Hiệu qua = Yếu tố đầu vào/Kết quả đầu ra Trong công thức này lại phản ánh một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu don vị đầu vào. Dựa vào công thức nảy nhà quản trị có thể xác định được quy mô. tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực và chỉ phí thường xuyên.
Các yếu tố đầu ra được đo lường bằng các chỉ tiêu như: Tổng doanh thu thuần, tổng lợi nhuận, lợi nhuận gộp,.Các yếu tố đầu vào bao gồm: lao. động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, vốn chủ sở hữu, vốn vay,. Pham trù hiệu quả hoạt động được biều hiện nhiều dạng khác nhau,chính vì vậy việc phân loại hiệu quả hoạt động là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả. Phân loại hiệu quả hoạt động doanh nghiệp a.
Phân theo mức độ tỗng hợp và chỉ tiết Hiệu quả tông hợp: phản ánh kỹ năng tận dụng mọi nguồn lực dé đạt mục tiêu kinh doanh toàn doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp; đánh giá khái quát và cho phép kết luận hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định Hiệu quả chỉ tiết: phản ánh kỹ năng tận dụng một nguồn lực cụ thể theo. chỉ tiêu đã xác định; không đại diện cho tính hiệu quả của toàn doanh nghiệp, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực cá biệt cụ thể, làm rõ nhân 1 tố ảnh hưởng; kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ chỉ tiêu tông hợp. Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh chỉ tiết có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh chỉ tiết, khi đó chỉ có hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động. từng bộ phận của doanh nghiệp mà thôi. "Phân theo mỗi quan hệ với các chính sách tài trợ Hiệu quả kinh doanh: là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chỉ phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được.
Hiệu quả tài chính: là hiệu quá của việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh; hiểu theo cách khác, lả hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được vả chỉ phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế. Phan theo mỗi quan hệ với cộng đồng Hiệu quả kinh tế: là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó với mục tiêu đạt lợi ích cho nền kinh tế như góp phần làm cho nẻn kinh tế tăng trưởng, ôn định. 12 Hiệu quả xã hội: là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định như góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Như vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ cải tiễn cơ chế quản lý trong kinh doanh. ~ Bất kì hoạt động kinh doanh trong các điều kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn những tiềm ân, khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ thông qua phân tích doanh nghiệp mới có thể phát hiện được và khai thác chúng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Thông qua phân tích doanh nghiệp mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiền quản lý.