MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành Dược Việt Nam là một trong số các ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, gắn liền với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Sự phát triển của ngành dược là một yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo an ninh y tế và an sinh xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo xây dựng ngành Dược Việt Nam phát triển một cách bền vững ở hiện tại cũng như tương lai.
Tuy nhiên, ngành Dược Việt Nam hiện nay so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là ngành có mức độ phát triển tương đối thấp. Để hội nhập nền kinh tế thế giới, đòi hỏi ngành Dược phải đầu tư toàn diện nhằm đẩy mạnh năng lực cạnh tranh nội địa và với các hãng dược phẩm nước ngoài. Phải phát huy hiệu quả hoạt động của mỗi đơn vị, đổi mới dây chuyền công nghệ, năng lực quản lý của doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Ngoài ra, trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, thông tin về chi phí có vị trí rất quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí nhằm mục tiêu đưa ra nhiều loại sản phẩm với mức giá cả hợp lý, tiết kiệm được ngân sách để đầu tư cho việc đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, tăng cường cho hoạt động quảng cáo, phát triển sản phẩm mới, mở rộng thị trường … Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, muốn quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả, các nhà quản trị doanh nghiệp cần nắm bắt được thông tin về chi phí, bởi vì chi phí là cơ sở của việc lựa chọn các phương án kinh doanh.
Hơn nữa, việc tính toán và kiểm soát được chi phí thực tế phát sinh ở từng cá nhân, bộ phận sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được chính xác hiệu quả hoạt động của từng cá nhân, bộ phận đó, và có thể đánh giá được mức độ sử dụng chi phí tiết kiệm hay lãng phí ở từng bộ phận, từ đây tiến hành điều chỉnh, đồng thời cũng là căn cứ để thiết lập và xây dựng các chính sách thưởng phạt hợp lý. Theo khảo sát thực tế hiện nay, về công tác cung ứng và phân phối thuốc cho các tuyến điều trị ở Thanh Hóa chỉ mới đạt ở mức độ khiêm tốn khoảng 30% giá trị 1 tiền thuốc theo nhu cầu sử dụng, giá trị tiền thuốc bình quân đầu người đạt 12,3 USD tương đương 228.000 đồng/năm vào năm 2009 và đạt 19,05 USD tương đương 400. Về công tác kế toán quản trị chi phí, trong khi hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại đã được các doanh nghiệp tại những nước phát triển trên thế giới xây dựng từ lâu và phát huy được tính hữu ích của nó, thì hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa mới chỉ chú trọng vào việc ghi nhận thông tin kế toán tài chính, về kế toán quản trị chi phí mới đang chập chững hình thành nên tồn tại rất nhiều điểm hạn chế đối với chức năng cung cấp thông tin cho nội bộ doanh nghiệp. Khả năng phối hợp giữa các bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp để tổ chức thu thập đầy đủ dữ liệu đầu vào, đầu ra gặp nhiều khó khăn.
Như vậy, ngược lại với tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí, là sự sơ sài của hệ thống kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Thanh Hóa, điều này khiến cho doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Thanh Hóa khó có thể phát triển bền vững trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh của khu vực và thế giới. Do đó, ngành kinh doanh dược phẩm Thanh Hóa đang ngành cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí nhằm phục vụ cho việc quản trị mọi hoạt động kinh doanh của mình. Xuất phát từ đặc thù ngành kinh doanh dược phẩm tại Thanh Hóa, thực tế kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Thanh Hóa, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” làm nội dung để nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến kế toán quản trị chi phí Lịch sử của kế toán gắn liền với sự ra đời và phát triển của con người qua các hình thái kinh tế xã hội, mà cốt lõi là sự ra đời và phát triển của chữ viết cũng như việc sử dụng các con số và phép tính.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường, kế toán ngày càng hoàn thiện trên mọi phương diện, nó trở thành công cụ không thể thiếu được trong quản trị, kiểm tra, kiểm soát và điều hành các hoạt động kinh tế tài chính của bất cứ đơn vị nào. 2 Cho đến khi bước vào kỷ nguyên của thời đại thông tin (cuối thế kỷ 20 đến nay), kế toán dần chuyển từ kế toán thủ công sang kế toán trên máy, bắt đầu có sự tách rời chức năng của chủ doanh nghiệp và chức năng quản trị doanh nghiệp, thì lúc này kế toán quản trị và đặc biệt là kế toán quản trị chi phí dần dần phát huy vai trò quan trọng của mình. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp đang nỗ lực tìm kiếm cách thức kiểm soát, quản lý, để tối thiểu hóa chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh. Muốn vậy, doanh nghiệp không thể thiếu được sự tồn tại của kế toán quản trị chi phí.
Các quan điểm tiếp cận về kế toán quản trị cũng ngày càng chi tiết và rõ ràng hơn, tập trung đi sâu vào từng nội dung cụ thể của kế toán quản trị. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kế toán quản trị doanh nghiệp. Ban đầu trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đề cập đến kế toán quản trị dưới dạng tổng quát, mang tính định hướng xây dựng kế toán quản trị, cho đến những năm 1990, nhiều tác giả đã nghiên cứu chi tiết hơn về nội dung của kế toán quản trị, đi sâu tìm hiểu và áp dụng vào ngành nghề kinh doanh cụ thể. Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới các góc độ sau đây: - Về nhận diện và phân loại chi phí: Tác giả Michael W Maher (2000) trong nghiên cứu của mình cũng cho thấy sự cần thiết của kế toán quản trị trong thời đại hiện nay.
Kế toán quản trị định hướng cho việc kiểm soát chi phí trong tổ chức, Michael W Maher đã kết luận có 3 cách phân loại chi phí khác nhau cho các mục đích kiểm soát chi phí, bao gồm: (1) Chi phí chênh lệch; (2) chi phí toàn bộ; (3) Chi phí trách nhiệm. Làm rõ quy trình phân tích thông tin chi phí thông qua báo cáo phân tích chi phí, báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý. Đây là cơ sở để đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động trong từng bộ phận tại tổ chức góp phần vào công tác kiểm soát chi phí của tổ chức đó. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại về mặt lý thuyết mà chưa vận dụng vào thực tiễn các doanh nghiệp [61].
3 Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phan Tú Nga (2006) dựa vào đặc điểm kinh doanh để định hướng phân loại chi phí cho Tổng công ty xây dựng Sông Hồng, cụ thể, tác giả khuyến nghị doanh nghiệp nên nhận diện chi phí theo mức độ hoạt động và nhận diện chi phí theo trung tâm chi phí, cách nhận diện này dựa trên điều kiện, ngành nghề kinh doanh cụ thể của đơn vị là chuyên xây dựng ở các lĩnh vực: dân dụng, công nghiệp, giao thông, truyền tải điện, cấp thoát nước… Với đặc thù của hoạt động xây dựng luôn gắn liền với dự toán công trình, trong khi đó doanh nghiệp hiện tại vẫn đang sử dụng phương pháp nhận diện chi phí chưa tối ưu cho việc cung cấp thông tin đến các cấp quản trị là phân loại theo chức năng hoạt động mà chưa phân loại theo cách ứng xử của chi phí, theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí, theo trung tâm chi phí [14]. Tác giả Hồ Văn Nhàn (2010) đã nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành dịch vụ vận chuyển khách trong doanh nghiệp taxi. Nghiên cứu của tác giả đi vào xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành của dịch vụ vận tải, chỉ ra cách thức phân loại chi phí phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp này là hoạt động vận chuyển của taxi khách, từ đó định hướng phương pháp tính giá thành cho hoạt động vận chuyển [15]. Tác giả Đào Thúy Hà (2015) đã làm rõ cách phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam, dựa trên các cơ sở nhận diện như theo hình thái tự nhiên, theo phạm vi, theo khả năng quy nạp, theo sự thay đổi của chi phí với mức độ hoạt động, hoặc theo kỳ tính kết quả và theo mục đích kiểm soát, ra quyết định.
Từ đó đưa ra cách phân loại chi phí phù hợp cho các doanh nghiệp này là phân loại theo cấp bậc chi phí của các hoạt động luyện thép [10]. - Về xây dựng định mức và lập dự toán chi phí: Tác giả Phạm Quang (2002) trong nghiên cứu của mình đã trình bày những vấn đề về cơ sở lý luận chung của hệ thống báo cáo kế toán quản trị, phân tích rõ bản chất kế toán quản trị và đã giải quyết được các vấn đề nêu ra một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã định 4 hướng xây dựng hệ thống báo cáo quản trị, nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm soát, như báo cáo hàng tồn kho, định mức hàng tồn kho, báo cáo chi phí, xây dựng quy trình thu thập, xử lý dữ liệu để lập báo cáo thu nhập, báo cáo ngân sách cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung [19].