Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường Khái niệm môi trường Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế. Môi trường được chia làm ba loại: Môi trường tự nhiên, Môi trường xã hội, Môi trường nhân tạo. Trong đó, môi trường tự nhiên là điều nhóm nghiên cứu hướng tới trong bài nghiên cứu.
Môi trường tự nhiên gồm những nhân tố khách quan như động thực vật, đất, ánh sáng và không khí…Đây là các nhân tố tồn tại tự nhiên, nhưng ít nhiều chịu tác động của con người. Môi trường tự nhiên có 2 thành phần cơ bản: môi trường sinh vật và môi trường vật lý. Môi trường sinh vật gồm các thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên bao gồm động, thực vật, vi khuẩn, vi sinh vật…Môi trường vật lý là những thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm nước, đất, không khí, nhiệt độ,. Môi trường có chức năng là không gian sống của con người và sinh vật.
Trong quá trình tồn tại và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, ánh sáng,. cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác. Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp. Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó cho con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì.
Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật. Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội. - Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải.
Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người. Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi 10 trường là có giới hạn. Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường. Hoạt động bảo vệ môi trường Bảo vệ tài nguyên và môi trường là sự nghiệp của toàn dân và lâu dài, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều thế hệ nối tiếp nhau.
Sự cần thiết còn bắt nguồn từ thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên và ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng ở nước ta cũng như trên phạm vi toàn thế giới hiện nay. Các bài học của các quốc gia trên thế giới cũng cho thấy rằng hoạt động bảo vệ môi trường là cấp thiết và hết sức quan trong trong hoạt động sống nói chung và hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nói riêng. Muốn bảo vệ tốt môi trường cần thực hiện tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Mục tiêu của hoạt động này là bảo vệ sức khỏe cho người dân, đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường trong khu vực và toàn cầu.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của không chỉ Chính phủ mà còn là của các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, tổ chức phi lợi nhuận và mỗi con người cũng phải tiến lên và cùng nhau thực hiện. Trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong quá trình sản xuất sản phẩm có nhiều công đoạn và thành phẩm tạo ra các chất thải gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, vì vậy càng cần phải quan tâm tới môi trường, xây dựng sự nghiêm ngặt về môi trường vào trong dự án, vào trong các quy trình sản xuất để quản lý hoạt động môi trường. Bảo vệ môi trường có vai trò mạnh mẽ để giúp giảm tác động môi trường, cũng như đáp ứng hoặc vượt quá yêu cầu môi trường của doanh nghiệp. Điều này không chỉ giảm nhẹ trách nhiệm đối với môi trường mà nó cũng giúp sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm lãng phí.
Về lâu dài, bảo vệ môi trường giúp cải thiện hình ảnh DN của bạn và thu hút nhân viên, bằng cách cho họ thấy họ có thể tạo ra sự khác biệt như thế nào. Kế toán môi trường được ra đời với những lý do như vậy, để đảm bảo sự phát triển của con người cũng như ổn định bền vững của doanh nghiệp thì cần phải quan tâm đến kế toán môi trường. Trên thế giới đã có nhóm làm việc chuyên gia về cải thiện vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy kế toán quản trị môi trường (EMA: Environmental Management Accounting) được thành lập bởi Bộ Phát triển bền vững của Liên hợp 11 quốc (UNDSD) với sự hợp tác của một số cơ quan chính phủ và các chuyên gia phi chính phủ để thúc đẩy Kế toán quản trị môi trường thông qua các ấn phẩm, dự án thí điểm và bằng cách thành lập một diễn đàn quốc tế để thảo luận về vai trò của các chính phủ trong việc thúc đẩy EMA. Khái quát về kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm kế toán quản trị chi phí môi trường Chi phí môi trường Chi phí được khái quát một cách chung nhất là "nguồn lực bị hy sinh hoặc mất đi để đạt được một mục tiêu nhất định. Chi phí thường được đo lường dưới dạng khoản tiền phải trả cho hàng hóa và dịch vụ đã sử dụng" (Horngren, Datar & Foster, 2003).Theo đó, CPMT là một trong nhiều loại chi phí phát sinh tại DN mà DN phải chấp nhận và chi trả khi thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Theo IFAC (2005) chưa có sự đồng nhất về khái niệm chi phí môi trường. Có thể tổng hợp một số khái niệm CPMT được thừa nhận và sử dụng nhiều trong các nghiên cứu và hướng dẫn như sau: Bảng 1.
Các khái niệm kế toán quản trị môi trường Nguồn Định Nghĩa Chi phí môi trường là các chi phí môi trường nội bộ và chi phí xã hội. Chi phí môi trường nội bộ là các chi phí môi trường có liên USEPA quan ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của doanh nghiệp, chi phí xã (1995) hội là các chi phí cá nhân, xã hội và chi phí môi trường mà một doanh nghiệp không có trách nhiệm hoặc không phải thực hiện các ghi chép kế toán. Chi phí môi trường là các chi phí phát sinh liên quan đến thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường. Chi phí liên quan đến thiệt hại môi trường là các chi phí vật liệu, vốn, lao động bị lãng phí - nghĩa UNDSD là không hiệu quả trong quá trình sản xuất.
Chi phí bảo vệ môi (2001) trường là các chi phí phòng ngừa, loại bỏ, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động và chi phí khắc phục thiệt hại có thể phát sinh trong doanh nghiệp. 12 Chi phí môi trường bao gồm chi phí của các bước thực hiện, hoặc bắt buộc phải thực hiện để quản lý các tác động môi trường của UNCTAD hoạt động của doanh nghiệp một cách có trách nhiệm với môi (2002) trường, cũng như các chi phí khác cho các yêu cầu và mục tiêu môi trường của doanh nghiệp. Chi phí môi trường là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các loại chi FEM và FEA phí khác nhau có liên quan tới quản lý môi trường, các biện pháp (2003) bảo vệ môi trường và các tác động môi trường. Chi phí môi trường là các chi phí hữu hình và chi phí ẩn.
Chi phí môi trường hữu hình là chi phí trực tiếp liên quan đến thay đổi công nghệ và quy trình, chi phí làm sạch và thải bỏ, lệ phí cấp Atkinson và phép, tiền phạt và phí kiện tụng. Chi phí ẩn là các chi phí gắn với cộng sự đầu tư cơ sở hạ tầng để quản lý, kiểm soát các vấn đề môi trường (2011) như chi phí hành chính, chi phí đào tạo, chi phí tư vấn, chi phí thiệt hại do sự cố môi trường ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp. Chi phí môi trường là các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan Lee và cộng đến việc phòng ngừa hoặc giảm thiểu các tác động môi trường sự (2004) trong quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí môi trường là các chi phí có liên quan và có ảnh hưởng Phạm Đức trực tiếp tới hiệu quả hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động Hiếu (2010) môi trường của một đơn vị kế toán nói chung và của một doanh nghiệp nói riêng.
Nguồn: Theo tổng hợp của nhóm nghiên cứu Các doanh nghiệp khác nhau có thể xác định “chi phí môi trường” khác nhau và sử dụng đa dạng các phương pháp đối với đánh giá chi phí. Thông thường sự phân biệt giữa sức khỏe và an toàn và kiểm soát rủi ro. Với mục tiêu quản trị bên trong, không nên tập trung nhiều vào các khái niệm, vì tất cả các đặc trưng và chi phí liên quan được bao gồm trong việc ra các quyết định. Thông thường luật số liệu thống kê và quy trình đánh giá khác yêu cầu chi phí môi trường được phân loại bởi nhiều loại môi trường.
Do đó, mục đích kiểm 13 soát bên trong, chia sẻ chi phí đối với chất thải hoặc nước thải có thể chỉ ra kết quả hoặc thiên hướng. Để cung cấp sự tồn tại lớn nhất với việc tiếp cận quốc gia những phân loại này cũng được sử dụng đối với EMA chi phí môi trường với việc loại trừ nghiên cứu và các hoạt động phát triển, vì chúng được thực hiện đối với những đường riêng rẽ theo cách phân loại chi phí “ngăn chặn và quản trị môi trường”. Nếu phù hợp, các tổ chức cũng có thể xem xét cột đối với vấn đề sức khỏe và an toàn.