CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ BẢO TRÌ KỸ THUẬT 1. Khái quát chung về cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật 1. Dịch vụ bảo trì: Trong thời đại hiện nay, máy móc và thiết bị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh và dịch vụ…. Vì vậy bảo trì các loại máy móc thiết bị cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn, dịch vụ bảo trì vì thế cũng ngày một phát triển hơn.
Dịch vụ bảo trì bao gồm hai hoạt động cơ bản là hoạt động bảo trì và hoạt động dịch vụ. Để làm rõ nội dung của dịch vụ bảo trì ta đi tìm hiểu hai khái niệm bảo trì và dịch vụ. Bảo trì là hoạt động chăm sóc kỹ thuật, điều chỉnh, sửa chữa hoặc thay thế một hoặc nhiều chi tiết hay cụm chi tiết máy nhằm duy trì hoặc khôi phục các thông số hoạt động, bảo đảm máy móc thiết bị hoạt động với năng suất, tốc độ tải trọng đã xác định trước. [3, 398] Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. [11, 522] Về bản chất, dịch vụ bảo trì kỹ thuật cũng là sản phẩm được tạo ra để thoả mãn nhu cầu của con người. Khi sử dụng dịch vụ bảo trì, người sử dụng dịch vụ phải trả một khoản tiền nhất định, tức là dịch vụ bảo trì kỹ thuật cũng có giá trị và giá trị sử dụng như là hàng hoá. Chỉ có điều, dịch vụ bảo trì kỹ thuật cũng giống các loại hình dịch vụ khác là một loại sản phẩm hàng hoá vô hình, người sử dụng không sở hữu dịch vụ mà chỉ được hưởng những tiện ích từ dịch vụ mang lại.
Việc sản xuất ra dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ, tức là không lưu kho, lưu bãi, vận chuyển… Do vậy dịch vụ bảo trì kỹ thuật là hàng hoá nhưng là hàng hoá vô hình. Cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận. [5, Điều 3, Khoản 9] Thương mại dịch vụ bao gồm tất cả các hoạt động dịch vụ có tính thương mại phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của người sử dụng như: y tế, giáo dục, bảo hiểm, ngân hàng, xây dựng, thể thao, du lịch…Có nghĩa là bất cứ loại dịch vụ nào phục vụ cho nhu cầu của người sử dụng và đem lại một khoản tiền thù lao cho người cung ứng dịch vụ đều là thương mại dịch vụ. Như vậy, về bản chất CƯDVBT kỹ thuật cũng là một hoạt động cung ứng dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện dịch vụ bảo trì kỹ thuật cho khách hàng và nhận thanh toán; còn bên khách hàng có nghĩa vụ thanh toán cho bên CƯDVBT kỹ thuật và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận.
Đặc điểm, vai trò của hoạt động cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật 1. Đặc điểm Thứ nhất, về chủ thể tham gia vào quan hệ CƯDVBT kỹ thuật có hai chủ thể: bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Bên cung ứng dịch vụ kỹ thuật bắt buộc là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật còn bên sử dụng dịch vụ có thể là thương nhân, có thể không phải là thương nhân, có nhu cầu sử dụng dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ kỹ thuật. Thứ hai, về đối tượng hướng tới của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ.
Đối tượng cụ thể là việc thực hiện công việc theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ. Bên cung ứng dịch vụ bằng khả năng của mình phải thực hiện những công việc mà bên sử dụng dịch vụ yêu cầu, còn bên sử dụng dịch vụ được hưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ. Do vậy, đối tượng của 7 quan hệ cung ứng dịch vụ khác với đối tượng của quan hệ mua bán hàng hoá; bởi vì quan hệ mua bán hàng hoá hướng tới đối tượng là hàng hoá hữu hình có thể nhìn thấy. Còn quan hệ CƯDVBT kỹ thuật hướng tới đối tượng hàng hoá vô hình hay thực hiện, không thực hiện công việc nhất định.
Thứ ba, về mục đích của các bên tham gia quan hệ CƯDVBT kỹ thuật không hoàn toàn giống nhau. Bên sử dụng dịch vụ hướng tới mục tiêu nhằm thoả mãn nhu cầu của mình về dịch vụ, được hưởng những lợi ích nhất định từ việc thực hiện dịch vụ của người cung ứng dịch vụ mang lại. Đối với bên cung ứng dịch vụ kỹ thuật, mục tiêu lớn nhất là khoản thù lao hay hợi nhuận phát sinh từ việc thực hiện công việc cụ thể. Thứ tư, về hình thức của quan hệ CƯDVBT kỹ thuật.
Quan hệ CƯDVBT kỹ thuật được xác lập dưới hình thức hợp đồng: Hợp đồng cung ứng dịch vụ dưới hình thức văn bản thể hiện sự thoả thuận giữa các bên về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện một công việc cụ thể theo yêu cầu. Vai trò của cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật CƯDVBT là vấn đề cần thiết và có tầm quan trọng không kém trong hệ thống sản xuất. Sự ổn định của máy móc liên quan đến vấn đề sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm và sự phát triển của doanh nghiệp. CƯDVBT kỹ thuật ngày càng đóng vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp vì: - Phòng ngừa để tránh cho máy móc bị hỏng; - Cực đại hoá năng suất; Nhờ đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy lâu hơn; Nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để bảo trì nhỏ nhất; Nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất; 8 - Tối ưu hoá hiệu suất của máy: máy móc vận hành có hiệu quả hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn; - Tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn.
Nội dung hoạt động cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật Hoạt động CƯDVBT kỹ thuật bao gồm các quá trình cơ bản sau: - Xem xét, tiếp nhận yêu cầu CƯDVBT từ thị trường: Nội dung của quá trình xem xét, tiếp nhận yêu cầu từ thị trường là xác định các nhu cầu thực hiện dịch vụ từ thị trường; xem xét khả năng thực hiện CƯDVBT, khảo sát hiện trường lập biện pháp thi công tổng thể; lập dự toán, hồ sơ thầu, tham gia đấu thầu; thương thảo hợp đồng, ký kết hợp đồng và lưu hồ sơ. - Mua hàng, thuê dịch vụ: Việc mua hàng, thuê dịch vụ căn cứ vào kế hoạch CƯDVBT và bao gồm các nội dung sau: xác định nhu cầu mua hàng thuê dịch vụ (tuỳ thuộc từng hợp đồng CƯDVBT), lập kế hoạch, phê duyệt; chuẩn bị hồ sơ; đánh giá lựa chọn nhà cung cấp; thực hiện mua hàng , thuê dịch vụ; kiểm tra, nhận hàng, lưu kho; theo dõi đánh giá lại nhà cung cấp, lưu hồ sơ. - Sửa chữa, bảo dưỡng, thí nghiệm hiệu chỉnh các thiết bị điện, trạm phân phối đến 500kV. - Triển khai chế tạo, phục hồi các chi tiết, thiết bị, vật tư, phụ tùng thay thế: Bao gồm các nội dung sau: tiếp nhận yêu cầu, xem xét năng lực, thực hiện gia công, kiểm tra sản phẩm; nghiệm thu, bàn giao, nhập kho; thanh quyết toán, lưu hồ sơ.
- Xây lắp các công trình nguồn, lưới điện và các công trình công nghiệp khác: - Triển khai thực hiện CƯDVBT: Việc triển khai thực hiện CƯDVBT bao gồm các việc lập kế hoạch bảo trì; nghiên cứu, lập biện pháp bảo trì; thực hiện sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị; nghiệm thu, bàn giao, thanh quyết toán; bảo hành. Phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật 1. Xu hướng sử dụng dịch vụ bảo trì kỹ thuật Ngày nay, cùng với những thay đổi về công nghệ, hiện tượng toàn cầu hoá kinh tế, sự tái cơ cấu liên tục cũng như sự cải tiến phương tiện sản xuất, các công ty chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ sống còn của mỗi công ty để tồn tại và phát triển là sử dụng tối ưu cơ sở vật chất và thiết bị mình có để có thể chủ động kế hoạch sản xuất kinh doanh theo nhu cầu của khách hàng.
Nhu cầu về dịch vụ bảo trì nhằm duy trì hay khôi phục khả năng của máy móc thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có đặc tính yêu cầu trở lên cấp thiết. Trên thực tế, người ta ước tính rằng 50% máy móc thiết bị tại các công ty sản xuất công nghiệp Việt Nam bị hỏng hoặc hư hại nghiêm trọng do không được bảo trì hoặc bảo trì không đúng cách. Điều này cho thấy hoạt động CƯDVBT kỹ thuật tại Việt Nam còn chưa đáp ứng được so với nhu cầu và sự phát triển của công nghệ. Xu thế phát triển đặt ra các yêu cầu cho các doanh nghiệp sản xuất: nhu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao, công nghệ sản xuất ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn, vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng được coi trọng.
Trước các yêu cầu ngày càng khắt khe đó các doanh nghiệp sản xuất cần quan tâm một cách đúng mức tầm quan trọng của công tác bảo trì. Nhằm khai thác thế mạnh của đối tác mà vẫn giữ quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời với mục đích chia sẻ rủi ro và tập trung vào việc phát triển các năng lực chủ yếu, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng các dịch vụ từ các công ty cung cấp dịch vụ bảo trì chuyên nghiệp. Đó có thể coi là triển vọng lớn cho sự phát triển của hoạt động CƯDVBT kỹ thuật trong tương lai. Phương thức phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ bảo trì kỹ thuật 1.
Phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ bảo trì theo chiều rộng Phát triển theo chiều rộng gắn với việc mở rộng quy mô về thị trường, khách hàng, từ đó khai thác hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Phát triển theo chiều rộng là phát triển cho cả 4 nhân tố đầu vào là: lao động, vốn, công nghệ, và tài nguyên theo một tỷ lệ như cũ để phát triển mở rộng thị trường.