Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu có liên quan Chương 3: Phương pháp luận Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 9 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Lý luận chung về ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại, nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Theo Peter S. Tại Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” (Khoản 3 Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng, 2010) và định nghĩa “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng với mục đích kiếm lời.
Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có điều kiện và có độ rủi ro cao. 10 Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng trên mỗi phương diện khác nhau, tại mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan niệm, cách nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên tất cả điều đó đều cho chúng ta những cách hiểu sâu sắc hơn về khái niệm ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng, đồng thời qua đó, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các hoạt động và những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Từ những nhận định trên có thể thấy, NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Vai trò của ngân hàng thương mại 2. Ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng để thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa Để phát triển kinh tế, các đơn vị kinh tế cần phải có nguồn vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Thông qua chức năng huy động vốn, cho vay và đầu tư, các ngân hàng thương mại đã huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, cho vay dưới các hình thức khác nhau đối với các thành phần kinh tế, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển. Với vai trò trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại đã thực hiện các dịch vụ trung gian thanh toán đối với các thành phần kinh tế trong nền kinh tế, do đó đã thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí thanh toán, nâng cao hiệu quả toàn bộ nền kinh tế.
Đồng thời, ngân hàng thương mại cũng giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo nên môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo ra sự ổn định trong kinh tế - xã hội. Từ đó có thể thấy, nhờ các hoạt động của NHTM mà các tổ chức, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến công nghệ và máy móc trang thiết bị, nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế cho xã hội. Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô 11 nền kinh tế Với chức năng tạo tiền, NHTM là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền và tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế. NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn trên thị trường, qua đó NTHM điều khiển nguồn vốn trên thị trường một cách có hiệu quả.
Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung Ương (NHTW) phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn, các công cụ chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các NHTM cũng như việc chấp hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay, đầu tư. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Có thể nói, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong những điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia.
Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của các NHTM trong các lĩnh vực kinh doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt, là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng nước ngoài của NHTM trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 2. Hoạt động huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có (vốn điều lệ và các quỹ), hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh 12 doanh.
Trong hoạt động này, NHTM được sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: - Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá: NHTM được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác để phục vụ nhu cầu cho các hoạt động kinh doanh. Sau khi được NHTW chấp thuận, NHTM được phép phát hành các chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Nguồn vốn huy động từ nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, là tài sản bằng tiền của các chủ thể trong nền kinh tế mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ cho khách hàng theo đúng cam kết.
- Vay vốn: Để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, NHTM có thể đi vay NHTW, NHTM khác hoặc vay vốn từ ngân hàng nước ngoài. NHTW sẽ cho NHTM vay thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, bổ sung vốn thanh toán bù trừ… Thông thường, NHTM chỉ vay NHTW để đảm bảo khả năng chi trả. NHTM cũng có thể vay vốn từ NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng. - Huy động vốn khác: NHTM có thể tiếp nhận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân sách Nhà nước, các tổ chức tài chính quốc tế để tài trợ các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, cải tạo môi trường… Ngoài ra, NHTM còn huy động được nguồn vốn phát sinh trong quá trình làm đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng… để bổ sung nguồn vốn huy động phục vụ hoạt động kinh doanh.2 Hoạt động tín dụng 13 Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. - Cho vay: NHTM trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn hạn, trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. NHTM cho vay theo nguyên tắc đối tượng vay hoàn trả gốc và lãi khi khoản vay đến hạn và được kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của tổ chức, cá nhân vay vốn. Hoạt động cho vay đi kèm với các rủi ro trong hoạt động tín dụng nên NHTM được sử dụng các biện pháp đảm bảo tài sản từ các đối tượng vay như: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… và trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các khoản cho vay không thu hồi được nợ.
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá: NHTM cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá (GTCG) ngắn hạn khác. Trong trường hợp này, người sở hữu thương phiếu và GTCG khác phải chuyển nhượng ngay mọi quyền lợi và lợi ích hợp pháp từ các giấy tờ có giá cho ngân hàng. NHTM cũng có thể cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố các hối phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác và được thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ có giá đó không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng.