Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Tổng quan về logistics 1. Khái niệm về logistics “Logistics” theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistique” trong tiếng Pháp. “Logistique” lại có gốc từ từ “Loger” nghĩa là nơi đóng quân.
Từ này có quan hệ mật thiết với từ “Lodge” – nhà nghỉ (một từ cổ trong tiếng Anh – gốc La tinh). Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ thứ 19. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về logistics như sau: Từ điển Webster định nghĩa: “Logistics là quá trình thu mua, bảo quản, phân phối và thay thế con người và trang thiết bị”. Theo American Heritage Dictionary, logistics có 2 nghĩa: “Logistics là một lĩnh vực hoạt động của quân đội, liên quan đến việc thu mua, phân phối, bảo quản và thay thế các thiết bị cũng như con người”.
Hoặc “Logistics là việc quản lý các chi tiết của quá trình hoạt động”. Theo tác giả Ma Shuo (Logistics and Supply Chain Management, tài liệu giảng dạy của World Maritime University, 1999) thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên / yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Theo giáo sư người Anh Martin Christopher thì cho rằng: “Logistics là quá trình quản trị chiến lược công tác thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo Giáo sư David Simchi-Levi thì “Hệ thống logistics (Logistics Network) là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ”.
TS Đoàn Thị Hồng Vân thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Do tầm quan trọng của logistics nên có nhiều trường phái, nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo tác giả thì logistics có thể được hiểu như là việc có được đúng số lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Hay nói cách khác, logistics là quá trình tối ưu hóa mọi công việc, mọi thao tác từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng sản phẩm trên cơ sở tối ưu hóa địa điểm và thời điểm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nguyên vật liệu Quá Bến bãi trình chứa Kho sản lưu xuất trữ (sản Đóng thành Khách xuất gói phẩm hàng Máy móc, Phụ thiết tùng và bị lắp Trung ráp) tâm phân phối Bán thành phẩm Dòng chu chuyển vận tải Dịch vụ Dòng thông tin lưu thông … Cung ứng Quản lý vật tư Phân phối Logistics (Nguồn: GS. TS Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị logistics) Hình 1.1: Các bộ phận cơ bản của logistics 1. Khái niệm quản trị logistics Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (CLM) – một tổ chức uy tín về logistics đưa ra khái niệm “ Quản trị logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng với dòng thông tin tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng”(1).TS Đoàn Thị Hồng Vân, Quản Trị Logistics LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại logistics2 Trong thực tế, logistics được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Sau đây là một số cách phân loại phổ biến. Phân loại theo các hình thức logistics Logistics bên thứ nhất (1 PL – First Party Logistics). Người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics.
First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Logistics bên thứ hai (2 PL – Second Party Logistics). Người cung cấp dịch vụ logistics là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan… Logistics bên thứ ba (3 PL – Third Party Logistics).
Là người thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng hóa tới địa điểm đến quy định… Do đó, 3 PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Logistics bên thứ tư (4 PL – Fouth Party Logistics). Là người tích hợp (intergrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất 2 GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân, Quản Trị Logistics LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics, cung cấp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải… 4 PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Gần đây, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm Logistics bên thứ năm (5 PL).
5 PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các nhà cung cấp dịch vụ 3 PL và 4 PL, đứng ra quản lý chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử. Phân loại theo quá trình Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất. Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Logistics ngược (reverse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
Phân loại theo đối tượng hàng hóa Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics). Là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như quần áo, giày dép, thực phẩm… Logistics ngành ô tô (automotive logistics). Là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô. Logistics hóa chất (chemical logistics): là hoạt động logistics phục vụ ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm.
Logistics hàng điện tử (electronic logistics) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Logistics dầu khí (petroleum logistics): là hoạt động logistics phục vụ ngành khai thác và chế biến các sản phẩm từ dầu thô và khí đốt. Nội dung dịch vụ logistics 1. Khái niệm về dịch vụ logistics - Theo điều 233 Luật Thương mại Việt Nam (2005) thì “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm, nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. - Theo Nguyễn Như Tiến (2006), tác giả quyển “Logistics Khả Năng Ứng Dụng Và Phát Triển Trong Kinh Doanh Dịch Vụ Vận Tải Giao Nhận Việt Nam” thì dịch vụ logistics được xem là sự phát triển cao và hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải.
Theo ông thì qua các giai đoạn phát triển, dịch vụ logistics đã làm cho khái niệm giao nhận vận tải truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện từng công việc đơn lẻ, tách biệt như: thuê tàu, lưu cước, đóng gói, vận chuyển, làm thủ tục thông quan,.cho tới cung cấp một dịch vụ vận chuyển trọn gói từ kho đến kho “door to door”. Rõ ràng dịch vụ giao nhận vận tải không còn đơn thuần như trước mà đã phát triển ở mức độ cao và phức tạp hơn. Người giao nhận vận tải đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics.
Dịch vụ logistics là một chuỗi các dịch vụ mang tính liên hoàn, gắn kết với nhau. Khách hàng có thể yêu cầu một, một số hoặc tất cả các loại hình của chuỗi dịch vụ logistics; Nhà cung cấp dịch vụ logistics có thể tự mình đảm trách hoặc liên kết với nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu. Lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ logistics Sự phát triển của dịch vụ logistics bắt nguồn từ sự thay đổi trong sản xuất. Người bán hàng hóa không nhất thiết phải là người sản xuất và người mua không nhất thiết phải là người tiêu dùng cuối cùng.
Và để tránh ứ đọng vốn, các nhà sản xuất kinh doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng dự trữ nhỏ nhất. Điều này đòi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.