Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trong bối cảnh đất nước sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, tốc độ phát triển kinh tế gia tăng kéo theo nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật và giải trí của các tầng lớp nhân dân. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX trong phần chiến lược phát triển văn hóa đã nhấn mạnh yêu cầu: tăng nhanh mức đầu tư của Nhà nước và xã hội cho văn hóa, đẩy mạnh xây dựng các thiết chế văn hóa, khu vui chơi giải trí để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Mặc dù nhu cầu giải trí, thư giãn gia tăng, thực trạng hoạt động du lịch giải trí tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thời điểm đó còn nghèo nàn về loại hình dịch vụ, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế.

Công viên Thiên Đường Bảo Sơn (Bao Son Paradise Theme Park) do Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư xây dựng và Du lịch Bảo Sơn làm chủ đầu tư, nằm trong tổng thể dự án khu đô thị mới tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Dự án được triển khai nhằm kết hợp mục tiêu kinh tế du lịch và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Khóa luận tập trung nghiên cứu điểm đến này với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể được tác giả xác định như sau:

  1. Giới thiệu tổng quan về địa điểm vui chơi giải trí, không gian thư giãn cho du khách thủ đô và các vùng phụ cận.
  2. Khảo sát việc tái hiện không gian sinh hoạt của người dân Hà Nội cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX qua mô hình khu phố cổ và tôn vinh bàn tay tài hoa của nghệ nhân tại các gian nhà làng nghề truyền thống.
  3. Phân tích giá trị giáo dục trực quan đối với thanh thiếu niên Việt Nam trong việc tìm hiểu, kế thừa bản sắc văn hóa dân tộc.
  4. Đánh giá thực trạng tổ chức dịch vụ, nhận diện những hạn chế bước đầu trong công tác quản lý và vận hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển Thiên Đường Bảo Sơn thành điểm du lịch hấp dẫn, xứng đáng là cửa ngõ du lịch mới của Hà Nội.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình không gian và tổng thể kiến trúc xây dựng của Công viên giải trí và du lịch văn hóa Thiên Đường Bảo Sơn.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tìm hiểu khái quát toàn bộ dự án công viên, đi sâu khảo sát thực trạng khu vực dịch vụ văn hóa, đặc biệt là ba phân khu: Khu làng nghề truyền thống, Khu phố cổ và Khu ẩm thực; thời gian khảo sát từ khi công viên bắt đầu mở cửa đón khách (đầu quý IV năm 2008) đến giai đoạn hoàn thành khóa luận (năm 2009 - 2010).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên định hướng phát triển thiết chế văn hóa và cơ sở vui chơi giải trí được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX. Tác giả vận dụng các nhận định từ tài liệu "Bản dự báo về nhu cầu vui chơi giải trí của Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2010" của tác giả Nguyễn Tất Chung, làm rõ xu hướng chuyển dịch của văn hóa giải trí thế giới và Việt Nam trong thế kỷ XXI: chuyển đổi từ du lịch tham quan thuần túy sang du lịch đi sâu vào các tầng văn hóa nhân văn, khai thác bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo nhằm thúc đẩy ngành du lịch và dịch vụ phát triển.

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập thông tin từ hồ sơ dự án của Tập đoàn Bảo Sơn, các báo cáo quy hoạch khu đô thị mới An Khánh và số liệu thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam năm 2009.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa kiến trúc phục dựng tại công viên với các nguyên mẫu làng nghề Bắc Bộ và nhà ở truyền thống tại khu phố cổ Hà Nội thực tế.
  • Phương pháp khảo sát, quan sát thực địa: Trực tiếp ghi nhận không gian kiến trúc, quy trình trình diễn nghề thủ công, các dịch vụ ẩm thực và luồng di chuyển của khách tham quan tại các phân khu.
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn sâu các nghệ nhân đang thao diễn nghề thủ công (như nghệ nhân thêu Quất Động Thái Văn Bôn, nghệ nhân tạc tượng Sơn Đồng Nguyễn Viết Thạnh), đại diện ban quản lý khu phố cổ và các thợ lành nghề tại từng gian hàng.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm dữ liệu thứ cấp từ tài liệu quy hoạch, hồ sơ giới thiệu dự án của chủ đầu tư, các văn bản của cơ quan quản lý nhà nước và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua ghi chép hiện trường, khảo sát thực tế và đối thoại với nhân sự quản trị tại công viên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về khu công viên Thiên Đường Bảo Sơn

Chương 1 giới thiệu khái quát về chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư xây dựng và Du lịch Bảo Sơn (Tập đoàn Bảo Sơn / BAOSON GROUP), có trụ sở chính tại 50 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội, do ông Nguyễn Trường Sơn làm Chủ tịch. Tập đoàn vận hành hệ thống doanh nghiệp thành viên hoạt động đa lĩnh vực như Khách sạn Quốc tế Bảo Sơn (4 sao), Xuất nhập khẩu may mặc Nghi Tàm, Du lịch Quốc tế Bảo Sơn (Baoson Travel), Công ty TNHH MTV Du lịch Giải trí Thiên Đường Bảo Sơn cùng các đơn vị kinh doanh bất động sản, dược phẩm và thiết bị y tế.

Dự án Công viên Thiên Đường Bảo Sơn (Bao Son Paradise Theme Park) là một phân khu chức năng nằm trong đồ án quy hoạch tổng thể khu đô thị mới An Khánh, huyện Hoài Đức, gắn liền với định hướng mở rộng không gian Thủ đô giai đoạn 2005 - 2020. Dự án nằm tại Km8 đường Láng - Hòa Lạc, tiếp giáp các khu dân cư Đông An Khánh, xã Tây Mỗ (Từ Liêm), khu tập thể nông trường An Khánh và vùng sinh thái lân cận. Công viên có tổng diện tích quy hoạch gần 20 ha với tổng vốn đầu tư 50 triệu USD, thời gian dự kiến thu hồi vốn là 15 năm. Dự án khởi công xây dựng từ tháng 3/2005 và mở cửa đón khách từ đầu quý IV năm 2008.

Tiêu chí Thông số quy hoạch dự án Thiên Đường Bảo Sơn
Chủ đầu tư Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư xây dựng và Du lịch Bảo Sơn
Vị trí địa lý Km8 đường Láng - Hòa Lạc, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội
Quy mô diện tích công viên Gần 20 ha (trong tổng thể khu đô thị An Khánh)
Tổng mức vốn đầu tư 50 triệu USD
Thời gian thu hồi vốn dự kiến 15 năm
Thời điểm khởi công - mở cửa Khởi công: 3/2005; Mở cửa đón khách: Đầu quý IV/2008
Mục tiêu tiếp đón Khoảng 10.000 lượt khách/ngày; phục vụ 11 triệu dân nội ngoại thành và khách quốc tế
Khoảng cách kết nối Cách Hồ Hoàn Kiếm 12 km; Trung tâm Hội nghị Quốc tế 4 km; SVĐ Mỹ Đình 3 km
Cơ cấu phân khu quy hoạch 7 hạng mục chính (Khu vui chơi giải trí, biểu diễn laser/nhạc nước, làng nghề, sinh thái, phố cổ, ẩm thực, khu công cộng)

Chương 2: Hệ thống sản phẩm và thực trạng hoạt động của khu công viên Thiên Đường Bảo Sơn

Chương 2 phản ánh chi tiết hệ thống sản phẩm du lịch tại công viên, bắt nguồn từ ý tưởng của bà Nguyễn Thanh Thủy (con gái Chủ tịch Tập đoàn Bảo Sơn, tốt nghiệp khoa Du lịch - Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và tu nghiệp 4 năm ở nước ngoài). Công viên được xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu kép: chức năng kinh tế và chức năng bảo tồn văn hóa. Toàn bộ khuôn viên gồm 36 hạng mục công trình chia thành 4 phân khu chính: Khu du lịch văn hóa, Khu du lịch sinh thái, Khu vui chơi giải trí công nghệ cao và Khu nghệ thuật biểu diễn.

Tác giả đi sâu phân tích 3 hạng mục cốt lõi thuộc Khu du lịch văn hóa:

  1. Khu làng nghề truyền thống Việt Nam: Chiếm diện tích 10.000 m2, quy tụ 13 làng nghề thủ công tiêu biểu (thêu ren Quất Động, tranh đá quý Lục Yên, chạm đậu bạc Định Công, gốm Bát Tràng kết hợp đá onyx Pakistan, tạc tượng gỗ Sơn Đồng, chế tác sừng Thụy Ứng, mây tre đan Lưu Thượng - Phú Túc, khảm trai Chuôn Ngọ, điêu khắc Dư Dụ, gỗ lũa, dệt lụa Vạn Phúc, dệt thổ cẩm người Thái và Mường).

    • Không gian kiến trúc: Ban quản lý đã tìm kiếm và mua lại gần 12 ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi từ các tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam đưa về lắp dựng nguyên vẹn. Điển hình như ngôi nhà của nghề đậu bạc mua từ ông Hoàng Văn Tú (Cẩm Nhân, Yên Bình, Yên Bái, xây năm 1902, sửa năm 1958); nhà nghề lụa mua từ ông Nguyễn Văn Tiến (Đà Bắc, Hòa Bình, xây năm 1900, sửa năm 1960).
    • Cấu trúc mỗi ngôi nhà gồm 5 gian: gian giữa đặt bàn thờ tổ nghề và tiếp khách; 2 gian bên trái thao diễn sản xuất; 2 gian bên phải trưng bày và bán sản phẩm. Phía trước có sân gạch Bát Tràng, vườn cây cau, bưởi, luống rau dân dã; cổng gỗ 3 lối đi ngói âm dương xây lệch hướng tránh gió độc theo phong thủy.
    • Điểm nhấn trung tâm là ngôi đình làng 9 gian có niên đại trên 100 năm, diện tích 440 m2 thờ Thành hoàng làng và Tổ nghề, đặt 3 bộ tràng kỷ chạm trổ hoa cúc, hoa mai để biểu diễn chèo, quan họ Bắc Ninh. Bên cạnh là nhà thủy đình 230 chỗ ngồi biểu diễn các trích đoạn múa rối nước ngắn từ 1 đến 7 phút do Đoàn ca múa nhạc tuổi trẻ Bảo Sơn biểu diễn.
    • Cơ chế hoạt động: Thời gian đầu công viên miễn phí mặt bằng cho các gian hàng làng nghề; khi đi vào ổn định, chuyển sang phương thức chia phần trăm lợi nhuận. Tại đây trưng bày nhiều sản phẩm tinh xảo như bức tranh thêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (kích thước 2,4 m x 1,8 m do nghệ nhân Thái Văn Bôn và 20 thợ thực hiện trong 60 ngày đêm), tranh đá quý Lục Yên kiểm định bởi Viện Đá quý và Trang sức Việt Nam (giá từ vài trăm nghìn đến hơn 100 triệu đồng).
  2. Khu phố cổ: Diện tích 5.000 m2, lối vào qua cổng mô phỏng Ô Quan Chưởng, gồm 20 căn nhà liền kề tái hiện không gian kiến trúc Hà Nội cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

    • Kiến trúc xây dựng: Gồm 12 ngôi nhà 2 tầng kiểu Pháp (diện tích 70 m2/nhà, kết cấu vòm cuốn, ban công, logia, cửa hai lớp chớp trong kính) và các ngôi nhà hình ống 1 tầng cấu trúc truyền thống: nhà 1 (bán hàng, tiếp khách), sân khô 1 (cây cảnh bonsai lấy sáng), nhà 2 (kho, phòng ngủ), sân nước 2 (giếng nước, bếp) và nhà 3 (vệ sinh, kho). Công trình sử dụng vữa hỗn hợp xi măng vôi cát, bên trên phủ hệ thống mái vòm trong suốt.
    • Hoạt động kinh doanh và bảo tồn: Khu phố có sự tham gia cố vấn lịch sử của GS. Lê Văn Lan và nhà sử học Dương Trung Quốc, kinh doanh gần 20 ngành hàng xưa (ảnh cổ, ô mai Hồng Lam, áo dài Ngân An, tơ lụa Dung Từ, kim hoàn Long Ly, trà Ông Cốt Tiên, quạt giấy, đồ đồng, thuốc bắc). Du khách được trải nghiệm dịch vụ xe kéo chụp ảnh (giá vé 20.000 - 25.000 đồng), thưởng thức ca trù, hát xẩm tại ngôi đình phố cổ rộng 65 m2.
    • Định hướng mở rộng: Dự án quy hoạch thêm một Bảo tàng sáp 1.000 m2 chia làm 3 phân khu tái hiện lịch sử Việt Nam, tượng danh nhân dân tộc (Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Sáu, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo) và các nhân vật lịch sử thế giới (Lênin, Stalin, Napoleon, Fidel Castro).
  3. Khu ẩm thực: Diện tích 5.000 m2, tổ chức thành 3 khu chức năng:

    • Khu nhà sàn và nhà cổ Đông Dương: Phục vụ cơm phần, thực đơn đặc sắc 3 miền Bắc - Trung - Nam và các món ăn châu Á, chuyên tiếp đón khách đoàn, chiêu đãi và hội nghị.
    • Khu chợ quê: Gồm 31 kios phục vụ các món quà truyền thống Hà Nội như phở, bánh tôm, bánh cuốn Thanh Trì, bún chả, các loại xôi, bánh giò, kẹo bông.
    • Nhà hàng nhà hát: Kiến trúc cung đình, kết hợp giao thoa giữa nghệ thuật ẩm thực với các chương trình biểu diễn dân ca, cải lương, chèo.
    • Phương thức vận hành: Nhân viên phục vụ mặc trang phục áo bà ba màu cánh gián, quần láng đen, đội nón lá. Khâu thanh toán sử dụng hệ thống tem phiếu nội bộ in sẵn mệnh giá từ 50.000 đồng (chia nhỏ các mệnh giá từ 3.000 đồng) để mua hàng tại các kios; lượng tem phiếu chưa sử dụng hết được đổi trả lại bằng tiền mặt tại quầy giao dịch.

Chương 3: Giải pháp phát triển công viên Thiên Đường Bảo Sơn

Dựa trên thực trạng khảo sát bước đầu, tác giả hệ thống hóa các hạn chế và đề xuất nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện điểm du lịch:

  • Đào tạo và bổ sung nhân sự hướng dẫn viên: Tác giả chỉ ra điểm yếu lớn nhất tại khu làng nghề và các phân khu là đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm còn rất mỏng, khách muốn nghe thuyết minh phải liên hệ thuê riêng trước. Cần xây dựng đội ngũ thuyết minh viên thường trực, am hiểu sâu kiến thức lịch sử văn hóa để hỗ trợ trải nghiệm cho khách.
  • Duy trì và ổn định các hoạt động biểu diễn nghệ thuật đường phố: Trong giai đoạn đầu, các hoạt cảnh đường phố do NSND Lan Hương dàn dựng và các buổi hoạt náo diễn ra thường xuyên; tuy nhiên do lượng khách chưa ổn định và áp lực chi phí chi trả cho diễn viên, các hoạt động này bị thưa dần. Giải pháp đặt ra là cần cân đối ngân sách vận hành, tổ chức lịch diễn cố định vào các ngày cuối tuần để giữ chân khách.
  • Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và thích ứng thời tiết: Hệ thống tấm lợp thông minh che chắn khu phố cổ bộc lộ nhược điểm khi nhiệt độ quá cao hoặc mưa lớn. Cần có giải pháp vi khí hậu, thông gió và cải tạo kỹ thuật phù hợp hơn với điều kiện thời tiết 4 mùa của miền Bắc.
  • Hoàn thiện mô hình liên kết kinh doanh và mở rộng sản phẩm: Duy trì cơ chế chia sẻ doanh thu bền vững giữa công viên và các hộ nghệ nhân làng nghề, tránh tình trạng đơn điệu bằng việc định kỳ luân chuyển các gian hàng nghề thủ công; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện phân khu Bảo tàng sáp 1.000 m2 để gia tăng sức hút cho khu phố cổ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận ghi nhận các kết quả thực tế thông qua các số liệu và cứ liệu cụ thể có trong văn bản:

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về một tổ hợp giải trí - du lịch sinh thái và văn hóa quy mô gần 20 ha với tổng vốn đầu tư 50 triệu USD, quy hoạch 36 hạng mục công trình đón tiếp bình quân dự kiến 10.000 lượt khách/ngày.
  • Khảo sát thực trạng quy hoạch và phục dựng 12 ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi, ngôi đình làng 9 gian 440 m2, nhà thủy đình 230 chỗ ngồi và 20 căn nhà phố cổ (trong đó có 12 nhà 2 tầng kiểu Pháp diện tích 70 m2/nhà).
  • Nhận diện cơ chế vận hành dịch vụ thực tế: hình thức thanh toán bằng tem phiếu ẩm thực mệnh giá từ 50.000 đồng (chia nhỏ từ 3.000 đồng); chính sách hợp tác kinh doanh với nghệ nhân làng nghề từ miễn phí mặt bằng sang phân chia phần trăm doanh thu.
  • Tác giả đóng góp góc nhìn độc lập của người nghiên cứu văn hóa - du lịch khi phát hiện kịp thời các bất cập thực tế trong giai đoạn đầu vận hành (sự thiếu hụt hướng dẫn viên, gián đoạn biểu diễn hoạt náo đường phố do chi phí diễn viên, tính năng che chắn của vật liệu mái lợp phố cổ). Các giải pháp đề xuất bám sát thực tiễn hoạt động của một mô hình công viên văn hóa tư nhân mới đi vào vận hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Đề tài tập trung chuyên sâu vào Khu du lịch văn hóa (làng nghề, phố cổ, ẩm thực), chưa phân tích sâu 3 phân khu còn lại thuộc dự án là Khu du lịch sinh thái, Khu vui chơi giải trí công nghệ cao và Khu biểu diễn nghệ thuật laser - nhạc nước.
  • Dữ liệu nghiên cứu được thu thập ở giai đoạn đầu khi công viên mới khai trương (từ cuối năm 2008 đến năm 2009 - 2010), do đó lượng khách chưa ổn định, các số liệu tài chính về chu kỳ thu hồi vốn 15 năm chưa thể kiểm chứng dài hạn.
  • Hướng mở tiếp theo: Khảo sát định lượng quy mô mẫu du khách thực tế để đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ; theo dõi biến động doanh thu và hiệu quả của cơ chế chia sẻ lợi nhuận giữa ban quản lý với các làng nghề truyền thống sau nhiều năm đi vào vận hành.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và giảng viên các ngành Văn hóa học, Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học: Nguồn dữ liệu mô tả chi tiết về kỹ thuật chế tác của các làng nghề thủ công truyền thống Bắc Bộ (Quất Động, Sơn Đồng, Thụy Ứng, Chuôn Ngọ, Bát Tràng, Phú Túc) và quy trình tháo dỡ, phục dựng các nếp nhà cổ trăm năm.
  • Nhà đầu tư, nhà quản lý điểm đến du lịch văn hóa: Tham khảo mô hình phân khu chức năng kết hợp bảo tồn di sản với khai thác thương mại, phương thức quản lý khu ẩm thực bằng tem phiếu và kinh nghiệm xử lý các rủi ro vận hành trong giai đoạn đầu khởi nghiệp điểm đến.

Câu hỏi thường gặp

  1. Công viên Thiên Đường Bảo Sơn được đầu tư với quy mô diện tích và tổng vốn là bao nhiêu? Theo văn bản, công viên trải dài trên diện tích gần 20 ha với tổng vốn đầu tư là 50 triệu USD do Tập đoàn Bảo Sơn đầu tư, dự kiến thu hồi vốn trong vòng 15 năm, phục vụ bình quân khoảng 10.000 lượt khách/ngày.

  2. Nguồn gốc của các ngôi nhà cổ trong Khu làng nghề truyền thống được sưu tầm từ đâu? Khu làng nghề quy tụ gần 12 ngôi nhà cổ có tuổi đời trên 100 năm được công viên tìm kiếm và mua lại từ các tỉnh phía Bắc như Yên Bái, Hòa Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam. Điển hình là ngôi nhà nghề chạm bạc mua tại thôn Công Dụ, xã Cẩm Nhân, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (xây dựng năm 1902, tu sửa năm 1958) và nhà nghề lụa mua tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình (xây dựng năm 1900, tu sửa năm 1960).

  3. Khu phố cổ tại công viên có kiến trúc như thế nào và do ai làm cố vấn lịch sử? Khu phố cổ rộng 5.000 m2 gồm 20 căn nhà xây dựng theo kiến trúc Hà Nội cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, ngăn cách bằng cổng mô phỏng Ô Quan Chưởng. Khu vực gồm 12 ngôi nhà 2 tầng kiểu Pháp (diện tích 70 m2/nhà) và các ngôi nhà hình ống 1 tầng truyền thống có sân khô và sân nước. Quá trình thiết kế, xây dựng có sự tham gia cố vấn lịch sử của GS. Lê Văn Lan và nhà sử học Dương Trung Quốc.

  4. Hình thức thanh toán tại Khu ẩm thực của công viên được tổ chức ra sao? Công viên phát hành hệ thống tem phiếu nội bộ có mệnh giá từ 50.000 đồng, trên mỗi bảng tem được chia nhỏ thành các tem mệnh giá từ 3.000 đồng để khách mua thức ăn tại 31 kios chợ quê. Nếu sau khi ăn xong du khách vẫn còn thừa tem phiếu thì có thể đến quầy bán phiếu để đổi lại tiền mặt.

  5. Những bất cập bước đầu trong khâu vận hành mà tác giả chỉ ra tại công viên là gì? Tác giả nêu rõ các hạn chế: đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm còn rất ít; các màn biểu diễn hoạt náo đường phố tại khu phố cổ (từng do NSND Lan Hương dàn dựng) không duy trì thường xuyên do áp lực chi phí và lượng khách chưa ổn định; vật liệu mái che bằng tấm lợp thông minh vòm cong ở phố cổ chưa cách nhiệt và che chắn tốt khi thời tiết quá nắng hoặc mưa to.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Yến đã cung cấp một báo cáo khảo sát hệ thống và chi tiết về mô hình tổ chức không gian, sản phẩm văn hóa tại Công viên Thiên Đường Bảo Sơn trong giai đoạn đầu khai trương (2008 - 2010). Công trình phản ánh trung thực thực trạng vận hành của một tổ hợp du lịch tư nhân quy mô lớn tại cửa ngõ phía Tây Thủ đô, từ kiến trúc phục dựng nhà cổ, trình diễn làng nghề đến tổ chức dịch vụ ẩm thực và phố cổ. Bản nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị tư liệu thực địa rõ ràng đối với việc nghiên cứu bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế du lịch tại Việt Nam.