CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm về chiến lược: Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự là điều kiện cần để chiến thắng đối phương, ngày nay nó đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, khoa học môi trường. Trong lĩnh vực kinh tế thì lý thuyết về quản trị chiến lược ra đời muộn hơn, song đến giữa thập niên 70 của thế kỷ thứ 20 thì tư tưởng chiến lược ra đời đã được hệ thống hoá để tạo thành những quan điểm chiến lược dựa trên cơ sở phân tích khoa học thực sự đúng theo yêu cầu cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện đại, với tư tưởng chính xác là xác định đúng mục tiêu, phát triển tốt các biện pháp, theo đuổi các cơ hội vào bất cứ lúc nào khi nó xuất hiện. Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ.
Ngày nay, quản trị chiến lược đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu, một nội dung quan trọng trong quản lý các lĩnh vực ngành, doanh nghiệp và đã được áp dụng rộng rãi trên hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển. Đối với Việt Nam để thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thì lý thuyết và kinh nghiệm quản lý chiến lược phải được áp dụng trong từng ngành, từng doanh nghiệp. Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về chiến lược kinh doanh, các nhà kinh tế đưa ra các mô tả các thuật ngữ này theo các khía cạnh khác nhau với từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh: Lê Thị Bích Nga Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội 2 * Tiếp cận về phía “cạnh tranh”: một nhóm tác giả có quan điểm về chiến lược là nghệ thuật để giành thắng lợi khi cạnh tranh.Porter: “Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ”.Ohmae: “Mục đích của chiến lược là mang lại những điều thuận lợi nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng ranh giới của sự thỏa hiệp” và ông nhấn mạnh: “Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi bền vững đối với đối thủ cạnh tranh”. * Tiếp cận về khía cạnh “quản lý”: Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và mục tiêu hành động thành một tập thể kết dính với nhau.Quinn: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính với nhau” - Theo William J.Guech: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của một ngành sẽ được thực hiện”.
* Theo hướng tiếp cận khác, có một nhóm tác giả cho rằng: chiến lược là tập hợp các kế hoạch chiến lược làm cơ sở hướng dẫn các hoạt động. - Theo Alfred Chandler: “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Các quan niệm này đều coi chiến lược là một tập hợp các kế hoạch chiến lược làm cơ sở hướng dẫn các hoạt động để ngành hay tổ chức nào đó đạt được mục tiêu đã xác định. Tổng hợp các khái niệm trên có thể hiểu Lê Thị Bích Nga Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội 3 “chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh là công việc ấn định các nhiệm vụ và hệ thống các mục tiêu dài hạn, lựa chọn đưa ra các kế hoạch, chính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường, phối hợp tối ưu các nguồn để giành lấy thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra”.
Như vậy, có thể hiểu chiến lược phát triển của ngành hay tổ chức nào đó một cách chung nhất là công việc ấn định các nhiệm vụ và hệ thống các mục tiêu dài hạn, lựa chọn đưa ra các kế hoạch có tính chất toàn cục, chính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường, phối hợp tối ưu các nguồn lực để giành lấy thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra. Sự khác nhau giữa quyết định chiến lược với quyết định tác nghiệp, giữa chiến lược với chính sách thể hiện như sau: Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa quyết định chiến lược với quyết định tác nghiệp Chỉ tiêu Quyết định chiến lược Quyết định Tác nghiệp Thời gian Dài hạn Ngắn hạn Mục đích Xác định vị thế của tổ chức Thực hiện khai thác khả năng Thông tin Nguồn thông tin đa dạng Nguồn thông tin cụ thể chính xác nhưng mờ Mô hình ra Dựa trên sự phán đoán, sang Mang tính chất thuật toán quy quyết định tạo tắc Tác dụng Có tác dụng đối với toàn bộ Tác dụng cục bộ, khía cạnh, từng hoạt động của ngành hay tác chức năng, từng bộ phận dụng dài hạn Khả năng Khó Dễ thay đổi, có thể sửa chữa, ảnh thay đổi hưởng nhỏ Lê Thị Bích Nga Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội 4 Bảng 2.2: Sự khác nhau giữa chiến lược và chính sách Chỉ tiêu so Chiến lược Chính sách sánh Khái niệm Xác định hướng đi và mục Phương tiện để đạt được các mục tiêu dài hạn tiêu Nội dung Chương trình hành động tổng Cách thức hướng dẫn đường lối quát tạo cơ sở cho việc hình trong phân bổ nguồn lực, tồn tại thành các chính sách dưới dạng bảng hướng dẫn, quy tắc, thủ tục. Phần lớn các nhà kinh tế đều cho rằng các chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án đều thuộc vào phạm trù kế hoạch. Tuy nhiên giữa chiến lược với kế hoạch, chương trình và dự án lại có những điểm riêng biệt khác nhau.
Chiến lược là phương châm, kế hoạch chung nhất, xác định mục tiêu chủ yếu, hướng tới nắm bắt được các tình huống, nghiên cứu các triển vọng, lựa chọn các mục tiêu và cơ sở tiềm năng để tính toán cho nhiều năm về sau. Sử dụng các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp phân tích cũng như tổng hợp các khả năng, thực hiện những ý tưởng đề ra, đồng thời tập hợp lại những thông tin cần thiết cho quá trình này. Mong muốn tạo ra được sự thích ứng liên tục giữa các lĩnh vực với các phương pháp hoạt động và tình trạng ngoại cảnh của ngành. Mục đích cuối cùng là nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành.
Kế hoạch và chính sách là phương tiện để thực hiện các định hướng chiến lược, kế hoạch nhằm vào việc thực hiện các chương trình quản lý triển khai chiến lược trong từng thời gian thích hợp. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, phát triển kinh tế ngành cũng như mọi hoạt động kinh tế khác đều đặt dưới sự chỉ đạo của Nhà nước về mọi phương diện: Từ định hướng đến kế hoạch, chỉ tiêu phát triển và hiệu quả kinh tế. Nhưng trong nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau đối với hoạt động của ngành tuỳ theo thời gian và không gian, Nhà nước Lê Thị Bích Nga Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội 5 chỉ quản lý các ngành trên phương diện định hướng chiến lược. Quan hệ giữa chiến lược và kế hoạch được thể hiện.
Keá hoaïch daøi haïn Keá hoaïch theo thôøi Keá hoaïch ngaén Suy Ñònh gian haïn nghó höôùng chieán chieán löôïc löôïc Chöông trình Keá hoaïch theo thôøi gian Döï aùn Hình 1.1: Mối quan hệ hữu cơ giữa chiến lược và kế hoạch 1.2 Khái niệm về quản trị chiến lược: Trong thời đại hiện nay, môi trường sản xuất kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp phải chịu nhiều tác động từ các yếu tố như: môi trường, xã hội, tài nguyên, an toàn vệ sinh cho con người…Bên cạnh sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ thông tin, xu thế hội nhập và quấc tế hoá ngày càng tạo nhiều áp lực rủi ro và thách thức cho hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả những ngành sản xuất độc quyền cũng không loại trừ. Chính vì vậy Quản trị chiến lược sản xuất kinh doanh là vô cùng cần thiết nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp có chiến lược thích hợp trên cơ sở dự đoán và xác định mọi khả năng của doanh nghiệp trong tương lai, nhằm thu được hiệu quả kinh doanh cao nhất. Vậy theo tác giả Garry.Smith: “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại và cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức, đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”. Tiến trình của quản trị chiến lược bao gồm 5 giai đoạn: Lê Thị Bích Nga Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội 6 1.
Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu của ngành. Phân tích môi trường 3. Hình thành các phương án và lựa chọn phương án thích hợp nhất 4. Triển khai thực hiện chiến lược 5.
Đánh giá, kiểm tra kết quả thực hiện chiến lược và điều chỉnh chiến lược hoặc thay đổi mục tiêu. Quản trị chiến lược là một quá trình năng động và liên tục. Để có thể thực hiện công tác quản trị chiến lược nhanh nhạy và đạt hiệu quả thì việc đảm bảo thông tin giữa các thành phần trong suốt quá trình là đặc biệt quan trọng.3 Phân loại chiến lược kinh doanh Có nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh. Tuỳ theo căn cứ phân loại mà hình thành các chiến lược khác nhau 1.
Phân loại theo cấp xây dựng và quản lý chiến lược Chiến lược cấp tổng công ty: là chiến lược bao trùm toàn bộ hoạt động của Tổng công ty, nhằm mục đích hiện thực hoá nhiệm vụ chiến lược và các mục tiêu chính của Tổng công ty, đánh giá khả năng thực hiện chiến lược và phân tích danh mục sử dụng vốn đầu tư.