Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển cây quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn" thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, do sinh viên Hoàng Thị Như Quỳnh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hà Quang Trung tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2016). Nghiên cứu thuộc loại hình khảo sát kinh tế nông hộ và phân tích thực trạng kinh tế nông nghiệp thực chứng.
Về bối cảnh thực tiễn, Việt Nam sở hữu điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa đa dạng, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây ăn quả dài ngày. Tại các vùng trung du và miền núi, cây ăn quả giữ vai trò chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo, gia tăng thu nhập và phủ xanh đất trống đồi trọc nhằm bảo vệ môi trường sinh thái. Tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, cây quýt là cây trồng bản địa có lịch sử phát triển trên 100 năm. Nhờ đặc tính phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu địa phương, quả quýt Quang Thuận có màu vàng tươi, vị ngọt và mùi thơm đặc trưng, đem lại nguồn thu nhập chính cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng quả quýt trên địa bàn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng; quy mô canh tác còn phân tán, nhỏ lẻ, chịu ảnh hưởng bất lợi từ biến đổi khí hậu, suy thoái rừng đầu nguồn, kỹ thuật canh tác chưa đồng bộ và giá cả thị trường còn nhiều bấp bênh.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ quả quýt trên địa bàn xã Quang Thuận, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển cây quýt mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ quýt trên địa bàn xã Quang Thuận.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi trồng cây quýt trên địa bàn xã Quang Thuận.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây quýt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh cây quýt trên địa bàn xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi không gian: Khảo sát chi tiết tại 3 thôn đại diện gồm Boóc Khún, Nà Thoi và Nà Vài thuộc xã Quang Thuận.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra hộ trong năm 2016; các số liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2013 – 2015. Đề tài được triển khai đánh giá thực tế từ ngày 30/11/2015 đến ngày 16/04/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận và kỹ thuật, khóa luận tổng quan đặc tính sinh học của cây quýt (thuộc chi Cam chanh Citrus, họ Cửu lý hương Rutaceae, tên khoa học là Citrus reticulata). Cây sinh trưởng thuận lợi trong dải nhiệt độ từ 12°C đến 39°C (tối thích từ 23°C đến 29°C), lượng mưa hàng năm từ 1.000 – 1.500 mm phân bố đều, yêu cầu tầng đất dày trên 1 m, thoát nước tốt và độ pH từ 4,0 – 8,0 (thích hợp nhất từ 5,5 – 6,5). Về mặt dinh dưỡng, quả quýt có hàm lượng protein gấp 9 lần, canxi gấp 5 lần, photpho gấp 5,5 lần, vitamin B1 gấp 8 lần và vitamin C gấp 10 lần so với quả lê. Tác giả sử dụng khung định mức bón phân cho cây quýt theo độ tuổi do Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Bạch Thông ban hành để làm căn cứ kỹ thuật đối chiếu thâm canh (phân chuồng, đạm, lân, kali, vôi bột phân kỳ theo các độ tuổi 1-2 năm, 4-5 năm, 6-7 năm và trên 10 năm). Nghiên cứu cũng viện dẫn kinh nghiệm sản xuất thực tiễn từ các vùng quýt đặc sản như Bắc Sơn (Lạng Sơn) và Cao Phong (Hòa Bình), đồng thời gắn với dấu mốc tỉnh Bắc Kạn được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Quýt Bắc Kạn”.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các văn bản báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ hàng năm (2013 – 2015) của UBND xã Quang Thuận, số liệu thống kê về diện tích, năng suất, sản lượng từ Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Bạch Thông, tài liệu khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn và các khóa luận liên quan.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi có cấu trúc kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở để phỏng vấn trực tiếp 50 hộ nông dân trồng quýt tại 3 thôn (Boóc Khún, Nà Thoi, Nà Vài) đại diện cho các điều kiện sản xuất, diện tích và thu nhập khác nhau. Nội dung phỏng vấn bao gồm đặc điểm nhân khẩu, diện tích, chi phí đầu tư, nguồn giống, kỹ thuật chăm sóc, sản lượng, thị trường tiêu thụ và trở ngại thực tế.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn lãnh đạo UBND xã, cán bộ khuyến nông, trưởng thôn, hội trưởng hội nông dân và các cá nhân có uy tín lâu năm trong nghề trồng quýt nhằm khai thác thông tin bản địa.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin: Dữ liệu sơ cấp được làm sạch và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Tác giả áp dụng phương pháp thống kê kinh tế (phân tổ thống kê, xác định số tuyệt đối, số tương đối, tỷ lệ phần trăm, số bình quân, chỉ số phát triển liên hoàn và định gốc), phương pháp so sánh đối chiếu chỉ tiêu theo chuỗi thời gian, và hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế (năng suất, chi phí, giá trị sản xuất, giá trị trên công lao động).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của cây quýt trong việc tạo thu nhập ổn định và cải tạo hệ sinh thái vùng đồi núi huyện Bạch Thông. Xác định mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa học thuật, giá trị thực tiễn đối với chính quyền cơ sở cùng cấu trúc tổng thể gồm 5 phần của khóa luận tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa lý luận về vai trò của cây ăn quả trong khẩu phần ăn, cung ứng nguyên liệu chế biến công nghiệp (nước quả tự nhiên, necta quả, nước quả cô đặc) và bảo vệ đất dốc. Khái quát nguồn gốc sinh học, yêu cầu sinh thái của giống quýt Citrus reticulata và kỹ thuật tạo tán, cắt tỉa cành định kỳ. Đưa ra bảng định mức lượng phân bón chi tiết cho 1 cây quýt theo 4 nhóm năm tuổi:
| Nhóm tuổi cây (năm) |
Phân chuồng (kg/cây) |
Đạm (g/cây) |
Lân (g/cây) |
Kali (g/cây) |
Vôi bột (kg/cây) |
| 1 - 2 tuổi |
25 - 30 |
80 - 150 |
100 - 150 |
100 - 150 |
0,5 |
| 4 - 5 tuổi |
35 - 40 |
200 - 250 |
150 - 200 |
150 - 250 |
0,7 - 0,8 |
| 6 - 7 tuổi |
45 - 50 |
300 - 400 |
250 - 300 |
300 - 400 |
1,0 |
| Trên 10 tuổi |
50 - 60 |
400 - 800 |
350 - 400 |
240 |
1,0 |
Đồng thời, phần tổng quan phân tích kinh nghiệm thâm canh thực tiễn tại huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) với 646 ha, sản lượng trên 200 tấn/năm tại xã điểm; huyện Cao Phong (Hòa Bình) với quy mô 920 ha cam quýt, năng suất cao cho doanh thu 500 – 600 triệu đồng/ha; và toàn tỉnh Bắc Kạn với trên 1.200 ha quýt, sản lượng hàng năm đạt trên 7.000 tấn.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày thiết kế nghiên cứu thực địa đối với 50 hộ gia đình trồng quýt tại 3 thôn Boóc Khún, Nà Thoi, Nà Vài. Mô tả quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 – 2015 từ chính quyền cấp xã và huyện; quy trình phỏng vấn điều tra trực tiếp nông hộ và cán bộ địa phương trong năm 2016. Xác định các chỉ tiêu phân tích kinh tế và phương pháp xử lý số liệu bằng Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện thực trạng địa bàn và hoạt động kinh tế của các hộ điều tra:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Xã Quang Thuận có địa hình núi cao xen kẽ thung lũng hẹp, độ cao phổ biến từ 220 m đến 600 m, có sông Cầu chảy qua; nhiệt độ bình quân tuyệt đối 28°C (biên độ ngày đêm từ 4,8°C – 7,8°C), lượng mưa 1.518 mm/năm (78,9% dồn vào mùa hạ). Năm 2015, diện tích đất nông nghiệp chiếm 3.062,32 ha (94,25% tổng diện tích tự nhiên 3.249,15 ha), trong đó đất lâm nghiệp chiếm 82,80%; đất trồng cây lâu năm tăng từ 137,99 ha (2013) lên 238,03 ha (2015) do xu hướng chuyển đổi đồi keo, mỡ sang trồng quýt. Toàn xã có 6 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Hoa, Thổ, Kinh) phân bố tại 12 thôn; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 17 triệu đồng (2013) lên 19 triệu đồng (2014) và đạt 21 triệu đồng (2015); tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 giảm 34,13% so với 2014.
- Thực trạng sản xuất quýt trên địa bàn toàn xã (2013 – 2015): Toàn bộ các chỉ tiêu diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất quýt của xã đều tăng trưởng liên tục:
| Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
So sánh 2014/2013 (%) |
So sánh 2015/2014 (%) |
Bình quân chung (%) |
| Tổng diện tích |
ha |
420,00 |
475,00 |
530,00 |
113,10 |
111,58 |
112,34 |
| Diện tích cho thu hoạch |
ha |
280,00 |
300,00 |
350,00 |
107,14 |
116,67 |
111,91 |
| Năng suất |
tấn/ha |
4,50 |
4,80 |
5,10 |
106,67 |
106,25 |
106,46 |
| Sản lượng |
tấn |
1.260 |
1.440 |
1.785 |
114,29 |
123,96 |
119,13 |
| Giá trị sản xuất |
tỷ đồng |
18,90 |
21,60 |
26,80 |
114,29 |
124,07 |
119,18 |
- Phân bố theo địa bàn thôn: Thôn Nà Thoi dẫn đầu xã cả về quy mô diện tích (198 ha năm 2015) và năng suất (5,5 tấn/ha), tiếp đến là Boóc Khún (100 ha, năng suất 5,4 tấn/ha), Nà Chạp (97 ha, năng suất 5,5 tấn/ha), Nà Đinh (63 ha, năng suất 5,3 tấn/ha). Các thôn mới đưa cây quýt vào sản xuất có diện tích và năng suất thấp hơn như Phiêng An I (2 ha, 4,9 tấn/ha), Phiêng An II (6 ha, 4,7 tấn/ha), Nà Kha (2 ha, 4,6 tấn/ha).
- Thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật: Trước đây người dân trồng bằng hạt mất 10 – 15 năm mới cho thu hoạch hoặc chiết cành hiệu quả thấp. Từ năm 2000, với sự hỗ trợ của Viện Rau quả Trung ương, kỹ thuật ghép mắt quýt trên gốc bưởi được đưa vào địa phương, giúp rút ngắn thời gian cho quả xuống còn 3 – 4 năm, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn. Điển hình như hộ ông Lưu Chấn Thụ (thôn Nà Thoi) sở hữu 3 ha quýt ghép, đạt thu nhập khoảng 400 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, việc bón phân tại nhiều hộ vẫn dựa vào cảm tính, chưa đúng liều lượng; kỹ thuật thu hái thủ công khiến quả dễ trầy xước, dập nát.
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm: Quýt Quang Thuận được lưu thông qua 4 kênh chính:
- Kênh 1: Hộ nông dân bán lẻ trực tiếp cho khách tiêu dùng qua đường tại trục lộ 257.
- Kênh 2: Thương lái thu mua tại vườn của nông hộ rồi bán cho người tiêu dùng (kênh phổ biến nhất đối với các vườn lớn).
- Kênh 3: Hộ trồng quýt bán cho các quầy, quán ven đường để bán lại cho người tiêu dùng.
- Kênh 4: Thương lái vào thu mua tại vườn, chuyển bán buôn lại cho các quầy quán kinh doanh.
Về giá bán: Đầu vụ đạt 18.000 – 20.000 đồng/kg; chính vụ thu hoạch rộ giá giảm xuống 10.000 – 12.000 đồng/kg; cuối vụ khan hiếm giá tăng lên 22.000 đồng/kg.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội và sản xuất của 50 hộ điều tra:
- Chủ hộ có độ tuổi bình quân là 40,7 tuổi; trình độ văn hóa THPT chiếm 72% (36 hộ), THCS chiếm 26% (13 hộ), tiểu học chiếm 2% (1 hộ); nhân khẩu bình quân đạt 4,46 người/hộ; số lao động chính bình quân là 2,16 lao động/hộ.
- Quy mô sản xuất của 50 hộ giai đoạn 2013 – 2015: Tổng diện tích trồng tăng từ 114 ha lên 164 ha (diện tích cho thu hoạch tăng từ 84 ha lên 128,5 ha); năng suất đạt 7,91 tấn/ha (2013), 7,78 tấn/ha (2014) và 9,04 tấn/ha (2015); sản lượng đạt 664,5 tấn (2013), 860 tấn (2014) và 1.162 tấn (2015); giá bán bình quân giảm dần theo niên vụ từ 12.000 đồng/kg (2013) xuống 11.000 đồng/kg (2014) và 10.000 đồng/kg (2015).
- Đánh giá thuận lợi và thách thức: Thuận lợi về thổ nhưỡng, vị trí dọc trục lộ 257 và chỉ dẫn địa lý "Quýt Bắc Kạn". Khó khăn bao gồm hạ tầng giao thông nội đồng là đường đất trơn trượt vào mùa mưa, hệ thống mương thủy lợi chỉ có 2,10 ha đất mương chưa kiên cố hóa, trình độ ứng dụng kỹ thuật thâm canh chưa đồng đều, tình trạng tư thương ép giá lúc rộ mùa và nguy cơ sâu bệnh.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, khẳng định vai trò trụ cột của cây quýt trong nền kinh tế xã Quang Thuận và kiến nghị các nhóm giải pháp tổ chức sản xuất đến năm 2020.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả định lượng:
- Nghiên cứu chứng minh cây quýt là cây trồng mũi nhọn tại xã Quang Thuận. Trong giai đoạn 2013 – 2015, diện tích quýt toàn xã mở rộng thêm 110 ha (từ 420 ha lên 530 ha, tốc độ tăng bình quân 12,34%/năm); diện tích cho thu hoạch đạt 350 ha; năng suất bình quân tăng từ 4,5 tấn/ha lên 5,1 tấn/ha; sản lượng tăng từ 1.260 tấn lên 1.785 tấn; giá trị sản xuất tăng từ 18,9 tỷ đồng lên 26,8 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng bình quân 119,18%/năm).
- Tại 50 hộ điều tra điểm, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và phân bón giúp năng suất năm 2015 đạt 9,04 tấn/ha, cao hơn mức bình quân chung toàn xã (5,1 tấn/ha), cung cấp sản lượng 1.162 tấn quả thương phẩm.
- Thu nhập từ quýt trực tiếp thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người toàn xã tăng từ 17 triệu đồng (2013) lên 21 triệu đồng (2015), góp phần giảm số hộ nghèo năm 2015 xuống 34,13% so với năm 2014.
Về giải pháp tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật và giống: Tăng cường cung ứng mắt ghép tuyển chọn từ cây đầu dòng ghép trên gốc bưởi; hướng dẫn nông dân tuân thủ nghiêm ngặt quy trình bón phân cân đối theo tuổi cây của Phòng Nông nghiệp & PTNT; phổ biến chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và kỹ thuật đốn tỉa tạo tán hàng năm.
- Giải pháp thu hoạch và bảo quản: Hướng dẫn kỹ thuật thu hái bằng kéo chuyên dụng để hạn chế dập nát; khuyến cáo không hái quả quá sớm (khi chưa đạt độ đường) hoặc quá muộn (quýt chín ngẫu); huy động nhân lực thu hái kịp thời khi quýt chín rộ.
- Giải pháp thị trường và liên kết tiêu thụ: Tận dụng quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý "Quýt Bắc Kạn" để quảng bá thương hiệu; xây dựng mối liên kết tiêu thụ ổn định giữa hộ sản xuất và các tư thương, tránh tình trạng bị ép giá; từng bước liên kết cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến nước giải khát.
- Giải pháp hạ tầng và chính sách: Đề nghị chính quyền hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương thủy lợi nội đồng (hiện chỉ có 2,10 ha); cải tạo các tuyến đường liên thôn, đường đồi phục vụ vận chuyển quả; hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Chương trình 135 để tái đầu tư thâm canh.
Về đóng góp so với các tài liệu trước:
- Tác giả tự nêu việc cung cấp hệ thống số liệu thực tế cập nhật, phản ánh chi tiết hiện trạng sản xuất quýt ở cấp độ hộ nông dân và cấp xã tại Quang Thuận trong giai đoạn 2013 – 2015.
- Làm rõ tính ưu việt của mô hình ghép mắt quýt trên gốc bưởi thay thế tập quán gieo hạt truyền thống, minh chứng bằng sự thành công của các hộ nông dân tại thôn Nà Thoi và Boóc Khún.
- Khái quát hóa sơ đồ 4 kênh phân phối nông sản thực tế tại địa phương, làm cơ sở thực tiễn cho công tác quy hoạch vùng cây ăn quả của huyện Bạch Thông đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Thời gian khảo sát thực địa của đề tài bị giới hạn trong khung thời gian học tập (từ ngày 30/11/2015 đến ngày 16/04/2016), do đó dữ liệu sơ cấp chỉ ghi nhận tại một thời điểm mùa vụ.
- Quy mô chọn mẫu khảo sát dừng lại ở 50 hộ tập trung tại 3 thôn (Boóc Khún, Nà Thoi, Nà Vài) trên tổng số 12 thôn của toàn xã, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù canh tác tại các thôn vùng sâu mới phát triển diện tích trồng quýt như Phiêng An I, Phiêng An II hay Nà Kha.
- Đề tài tập trung phân tích khâu trồng trọt và bán quả tươi, chưa có điều kiện khảo sát sâu chuỗi cung ứng công nghiệp chế biến sâu (như nước ép đóng hộp, tinh dầu vỏ quýt).
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận trong vùng quy hoạch cam quýt của huyện Bạch Thông như Đôn Phong, Dương Phong, Tú Trĩ.
- Nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi giá trị và giải pháp xây dựng liên kết hợp tác xã gắn với doanh nghiệp chế biến nhằm giải quyết triệt để vấn đề rớt giá khi vào chính vụ.
- Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và diễn biến dịch bệnh mới phát sinh trên cây quýt ghép tuổi cao.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai và Trồng trọt khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về kinh tế nông hộ, phân tích thực trạng phát triển cây ăn quả có múi tại khu vực miền núi.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao bao gồm:
- Hệ thống số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu sử dụng đất nông - lâm nghiệp và diễn biến diện tích, sản lượng quýt theo từng thôn tại xã Quang Thuận qua 3 năm (2013 – 2015).
- Định mức bón phân cụ thể theo từng độ tuổi sinh trưởng của cây quýt do cơ quan chuyên môn địa phương ban hành.
- Sơ đồ nhận diện 4 kênh tiêu thụ quả tươi và phương pháp đánh giá các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quyết định sản xuất của nông hộ vùng cao.
Câu hỏi thường gặp
- Kỹ thuật nhân giống cây quýt tại xã Quang Thuận đã có bước chuyển đổi lịch sử như thế nào?
- Trước năm 2000, nông dân địa phương chủ yếu gieo quýt bằng hạt (phát triển rất chậm, mất 10 – 15 năm mới cho thu hoạch) hoặc chiết cành số lượng nhân giống ít. Từ năm 2000, nhờ sự hỗ trợ của Viện Rau quả Trung ương, tỉnh và huyện, kỹ thuật ghép mắt quýt với gốc bưởi được đưa vào địa phương. Phương pháp này giúp nhân giống nhanh, cây bói quả sớm chỉ sau 3 – 4 năm, dễ chăm sóc và quả ngon hơn. Điển hình là hộ ông Lưu Chấn Thụ (thôn Nà Thoi) tiên phong trồng thử nghiệm, đến năm 2015 đã phát triển 3 ha quýt ghép, cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng/năm.
- Quy mô sản xuất quýt trên địa bàn toàn xã Quang Thuận tăng trưởng ra sao trong giai đoạn 2013 – 2015?
- Trong 3 năm, diện tích trồng quýt toàn xã tăng thêm 110 ha, từ 420 ha (2013) lên 475 ha (2014) và đạt 530 ha (2015), đạt tốc độ tăng bình quân 12,34%/năm. Diện tích cho thu hoạch tăng từ 280 ha lên 350 ha. Năng suất bình quân tăng từ 4,5 tấn/ha lên 5,1 tấn/ha. Sản lượng quýt tăng từ 1.260 tấn lên 1.785 tấn. Tổng giá trị sản xuất quýt tăng từ 18,9 tỷ đồng (2013) lên 26,8 tỷ đồng (2015).
- Quýt Quang Thuận được tiêu thụ qua những hình thức nào và giá cả biến động ra sao trong một niên vụ?
- Sản phẩm được lưu thông qua 4 kênh: Kênh 1 (nông hộ bán lẻ trực tiếp cho khách tiêu dùng qua đường); Kênh 2 (thương lái mua tại vườn rồi bán lẻ cho người tiêu dùng - kênh chủ yếu); Kênh 3 (bán cho các quán quýt ven đường); Kênh 4 (thương lái mua tại vườn bán đổ cho các quán bán lẻ). Về giá cả: Đầu vụ tư thương vào mua tận vườn với giá 18.000 – 20.000 đồng/kg; vào chính vụ nguồn cung lớn giá giảm còn 10.000 – 12.000 đồng/kg; đến cuối vụ quýt khan hiếm giá tăng trở lại mức 22.000 đồng/kg.
- Khảo sát 50 hộ nông dân tại 3 thôn Boóc Khún, Nà Thoi, Nà Vài ghi nhận các chỉ số kinh tế - xã hội nào?
- Độ tuổi bình quân của chủ hộ là 40,7 tuổi; 72% chủ hộ có trình độ học vấn THPT (36 hộ), 26% trình độ THCS (13 hộ), 2% trình độ tiểu học (1 hộ); số nhân khẩu bình quân là 4,46 người/hộ; số lao động chính bình quân là 2,16 người/hộ. Về kết quả sản xuất của 50 hộ: Năm 2015, diện tích trồng đạt 164 ha (trong đó diện tích cho thu hoạch đạt 128,5 ha), năng suất bình quân đạt 9,04 tấn/ha, sản lượng đạt 1.162 tấn quả và giá bán bình quân đạt 10.000 đồng/kg.
- Những rào cản kỹ thuật và hạ tầng chủ yếu nào đang ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất quýt tại xã?
- Hệ thống giao thông nông thôn và nội đồng phần lớn là đường đất chất lượng xấu, dễ bị sạt lở xói mòn vào mùa mưa lũ khiến việc vận chuyển quýt từ đồi xuống đường lớn gặp khó khăn, quả dễ bị rập nát. Hệ thống thủy lợi toàn xã chỉ có 2,10 ha đất mương đất chưa kiên cố hóa nên khó chủ động nước tưới. Nông dân chủ yếu thu hái thủ công, thiếu hụt lao động khi quýt chín rộ dẫn đến quả bị rụng hỏng, hoặc thu hái không đúng độ chín (quá sớm hoặc quá muộn), cùng với việc bón phân theo cảm tính làm giảm phẩm cấp và bị thương lái ép giá.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Như Quỳnh đã phân tích có hệ thống thực trạng sản xuất và tiêu thụ cây quýt tại xã Quang Thuận giai đoạn 2013 – 2015 dựa trên sự kết hợp giữa dữ liệu thống kê địa phương và khảo sát thực chứng 50 hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu chứng minh chuyển đổi sang giống quýt ghép mắt trên gốc bưởi và mở rộng diện tích thâm canh đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ nét, khẳng định vai trò cây trồng mũi nhọn giúp xóa đói giảm nghèo tại xã miền núi. Công trình đồng thời nhận diện chính xác các điểm nghẽn về hạ tầng thủy lợi - giao thông nội đồng, tập quán thu hái thủ công và áp lực tiêu thụ chính vụ, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn tin cậy phục vụ định hướng quy hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp của huyện Bạch Thông đến năm 2020.