ĐẶT VẤN ĐỀ Xã hội ngày càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm. Do vậy mức đầu tư xã hội cho ngành chăn nuôi ngày càng có xu hướng tăng nhanh ở hầu hết mọi nền nông nghiệp. Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa,… nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân.
Một xu hướng tiêu dùng có tính qui luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung. Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngàng công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu. Đây cũng là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị xuất khẩu. Nhận thấy nhu cầu thiết yếu đó, chăn nuôi bò sữa ở nước ta ngày càng giữ vai trò to lớn trong việc cung cấp loại thực phầm có chất lượng cao, đáp ứng như cầu của xã hội, từng bước thay thế nhập khẩu.
Mặt khác phát triển chăn nuôi bò sữa là một giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Phát triển chăn nuôi bò sữa sẽ tạo ra khả năng phát triển công nghiệp chế biến, từ đó tạo điều kiện để thu hút lao động dôi dư ở nông thôn, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời cho phép sử dụng tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên và nguồn lao động một cách có hiệu quả nhất. Xuất phát từ nhu cầu trên, chính phủ đã phê duyệt dự án phát triển bò sữa quốc gia giai đoạn 2001 – 2010. Nằm trong dự án chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Thịnh đã được chọn là một trong những trọng điểm phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện Vĩnh Tường.
Là xã có số lượng chăn nuôi bò sữa 1 nhiều nhất tỉnh với 976 hộ và trên 4389 con bò sữa (năm 2014). Hơn 10 năm qua, phong trào chăn nuôi, đăc biệt là chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh trên địa bàn xã, tuy nhiên điều đáng nói là trên 87 % số chuồng trại chăn nuôi hiện nay của các hộ dân đều nằm trong gia đình cùng với nhà ở. Toàn bộ phân và chất thải của hàng trăm con bò đều được người dân xả thải trực tiếp ra hệ thống cống rãnh. Việc phát triển đàn bò sữa đem lại thu nhập cao cho người dân.
Tuy nhiên, hệ lụy từ việc quá nhiều hộ đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đã và đang gây ra những hệ lụy xấu ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống và sức khỏe của người dân. Chính vì vậy, trong thời gian qua, ô nhiễm môi trường từ hoạt động chăn nuôi thực sự đã trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm ở xã Vĩnh Thịnh. Mặc dù Đảng ủy, UBND xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các ban, ngành, đoàn thể và các thôn dân cư tập trung tuyên truyền, vận động, nhắc nhở người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm cũng như thực hiện những biện pháp bảo vệ môi trường nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu.
Xuất phát từ tính cấp thiết đó cho thấy việc phát triển hoạt động chăn nuôi bò sữa (CNBS) tại xã Vĩnh Thịnh đảm bảo chất lượng môi trường sinh thái cũng như kinh tế, xã hội là việc làm hàng đầu trong việc phát triển kinh tế bền vững cho khu vực. Nhận thấy điều đó, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững hoạt động chăn nuôi bò sữa tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh phúc” làm chuyên đề khoá luận tốt nghiệp đại học của tôi. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Phát triển bền vững: Theo Uỷ ban Thế giới về Môi trường & Phát triển đưa ra năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Ngày nay khái niệm bền vững phải nhằm hướng tới: bền vững về kinh tế bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về môi trường. Phát triển nông nghiệp bền vững: Ta có thể dẫn ra định nghĩa của TAC/CGIAR (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp): “Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên nhiên nhiên” hay “Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp về mặt kinh tế bảo đảm được hiệu quả lâu dài cho cả tương lai; về mặt xã hội không làm gay gắt sự phân hoá giàu nghèo, nhằm bảo hộ một bộ phận lớn nông dân, không gây ra những tệ nạn xã hội nghiêm trọng; về mặt tài nguyên môi trường, không làm cạn kiệt tài nguyên, không làm suy thoái và huỷ hoại môi trường”. Tổng quan hoạt động chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi bò sữa chưa phải là nghề chăn nuôi truyền thống. Song ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta được hình thành khá sớm so với các nước trong khu vực.
Tuy nhiên so với các nước Châu Âu thì việc chăn nuôi bò ở nước ta còn khá mới mẻ. Năm 1923 một số giống bò Châu Âu được nhập vào nước ta để nuôi lấy sữa nhằm đáp ứng nhu cầu của quan đội pháp là chủ yếu. Với tầm nhìn chiến lược, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đảng và nhà nước nghĩ đến phát triển bò sữa đẻ có sữa cung cáp cho trẻ em, người già 3 và các bệnh viện. Chăn nuôi bò sữa ban đầu được nuôi tập trung tại các trung tâm giống bò sữa và các nông trường như: Mộc Châu (Sơn La), Ba Vĩ (Hà Tây),… Hình thức chăn nuôi tập trung này tồn tại đến cuối thập kỷ 80 và đầu những năm 90.
Mặc dù trong thời gian này có nhiều hạn chế song đã đặt nền móng cho việc phát triển chăn nuôi bò sữa ở nước ta. Đặc biệt trong những năm qua ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Nhằm thúc đẩy chăn nuôi bò sữa phát triển, với nhịp độ cao giải quyết nhu cầu sữa của nhân dân, trong những năm gần đây nhà nước đã có những chính sách hợp lý hỗ trợ cho ngành chăn nuôi bò sữa do vậy đàn bò sữa trong cả nước không ngừng tăng lên. Giai đoạn 2000 – 2003 đàn bò sữa của nước ta tăng trung bình 29%/năm.
Năm 2003 tổng đàn bò sữa của cả nước là 80 000 con; tăng 128% so với năm 2000. Việc tăng đàn bò sữa đã góp phần vào việc tăng sản lượng sữa trong cả nước đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.1: Bản đồ phân bố chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam. Nguồn: Công ty TNHH Dairy Việt Nam. 4 Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê: - Năm 2012 tổng đàn bò sữa là 166 989 con, tăng dần 17%; sản lượng đạt 381 740 tấn, tăng trên 10% so với năm 2011.
- Đến 01/01/2013 tổng đàn bò sữa đạt trên 174 000 con; sản lượng đạt trên 222 000 tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2012. - Mười tỉnh có đàn bò sữa lớn nhất: Bảng 1.1: Danh sách các tỉnh có đàn bò sữa lớn nhất. TT Địa điểm Số lƣợng (con) 1 Tp. Hồ Chí Minh 84 875 2 Nghệ An 28 187 3 Sơn La 12 830 4 Hà Nội 10 782 5 Long An 7 154 6 Lâm Đồng 5 971 7 Sóc Trăng 4 186 8 Tuyên Quang 2 763 9 Vĩnh Phúc 2 730 10 Bình Dương 2 146 Nguồn: Theo số liệu của cục thống kê (2012) [21].
Tính cấp thiết vấn đề nghiên cứu tại xã Vĩnh Thịnh Công tác quy hoạch chăn nuôi tập trung: Hoạt động chăn nuôi bò sữa đã được triển khai thực hiện tại xã Vĩnh Thịnh từ năm 2001, hầu hết khu chăn nuôi bò sữa đều gắn liền với nhà ở của các hộ dân. Tới năm 2010, số lượng bò sữa ngày một tăng lên làm chất lượng môi trường trong khu vực bị suy giảm, UBND xã đã xây dựng bản đồ quy hoạch khu chăn nuôi tập trung của xã với diện tích 17,2 ha và lập kế hoạch di chuyển các hộ chăn nuôi lớn ra khu chăn nuôi tập trung nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư [1]. Ngày 21/7/2014, UBND huyện đã ban hành hướng dẫn tạm thời số 1006/ HD-UBND về việc đưa chăn nuôi bò sữa phát triển ra ngoài khu dân cư. Nội dung cơ bản của văn bản này là hướng dẫn các xã chăn nuôi bò sữa có số hộ và 5 quy mô đàn bò sữa lớn trong khu dân cư thực hiện việc quy hoạch đất đai hoặc điều chỉnh lại quy hoạch (nếu đã có quy hoạch nhưng không còn phù hợp) để từng bước đưa chăn nuôi bò sữa phát triển ra ngoài khu dân cư.
Tuy nhiên, bản đồ quy hoạch và văn bản hướng dẫn cho kế hoạch di chuyển bò sữa ra khu tập trung của các cấp vẫn không được thực hiện bởi phần lớn các hộ chăn nuôi đều không đồng tình với chủ trương di chuyển chuồng trại ra khu chăn nuôi tập trung. Thêm vào đó, công tác quy hoạch, chuyển đổi ruộng đất còn gặp nhiều khó khăn đối với các cơ quan quản lý và nhân dân. Diện tích đất cho dự án quy hoạch chưa được đồng bộ mà toàn bộ để người dân chủ động trao đổi. Đất đai còn manh mún nên việc dồn ghép để có đủ diện tích xây chuồng trại còn gặp nhiều khó khăn [13].
Công tác quản lý môi trường: Tháng 7-2014, chương trình thí điểm thủ nghiệm chế phẩm sinh học xủ lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được phối hợp giữa xã Vĩnh Thịnh với Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên triển khai ứng dụng tại 2 thôn An Lão Trên và Khách Nhi Ngược.