CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Một số các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về chuỗi cung ứng Một hệ thống nhằm kết nối các đơn vị kinh doanh bao gồm cả khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối cho tới tiêu thụ cuối cùng được gọi là chuỗi cung ứng (Supply chain) và cũng là một trong những khái niệm quan trọng và có ảnh hưởng hầu hết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hiện nay. Chuỗi cung ứng gồm toàn bộ các hoạt động liên quan tới việc sản xuất và phân phối các nguyên liệu đến người tiêu dùng cuối cùng.
Nó là một mạng lưới các công ty và tổ chức kết nối với nhau nhằm sản xuất và cung các loại hàng hoá tới cho khách hàng. Các thành phần trong chuỗi cung ứng Để hình thành một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh cần có một vài bộ phận khác nhau. Những bộ phận đó đồng thời hoạt động cùng với nhau để có thể tạo ra sản phẩm từ nguồn nguyên liệu thô đầu vào từ nhà phân phối đến với khách hàng cuối cùng. Chuỗi cung ứng gồm năm thành phần cốt yếu: Nhà cung cấp nguyên liệu thô, nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ và khách hàng.
● Nhà cung cấp nguyên liệu thô: Là nguồn cung ứng các nguyên liệu thô nhằm sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Trong chuỗi sản xuất, nhà cung cấp nguyên liệu thô đóng vai trò quan trọng vì sẽ không thể tiến hành sản xuất được thành phẩm hoàn thiện nếu không có nguyên liệu thô. ● Nhà sản xuất: Nhà sản xuất là cơ sở tạo sản phẩm thông qua những nguồn nguyên liệu thô được cung ứng. Vai trò của nhà sản xuất đối với quá trình chuyển hoá nguyên liệu thô thành các sản phẩm hoàn chỉnh là vô cùng cần thiết.
● Nhà phân phối: Nhà phân phối có vai trò đảm nhiệm việc cung cấp các sản phẩm này tới các đại lý bán lẻ sau khi sản phẩm đã hoàn thành sản xuất. Sợi dây kết nối giữa nhà sản xuất và đại lý bán lẻ sẽ đóng vai trò là Nhà phân phối. ● Đại lý bán lẻ: Đây là nơi bán các sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng cuối cùng. Các sản phẩm từ nhà phân phối hoặc nhà sản xuất sẽ được đại lý bán lẻ mua và bán lẻ tới tận khách hàng.
Các đại lý bán lẻ có thể bao gồm các siêu thị và chuỗi cửa hàng tiện ích, tạp hoá. 1 ● Khách hàng: Là người tiêu dùng của sản phẩm hoàn chỉnh. Khách hàng có thể mua sản phẩm trực tiếp từ các cửa hàng bản lẻ hoặc thông qua các kênh bán hàng trực tiếp hoặc online từ nhà sản xuất nếu sản phẩm được bán trực tiếp. Quản lý chuỗi cung ứng Tất cả các hoạt động liên quan đến quản lý hậu cần được gọi là quản lý chuỗi cung ứng, bao gồm việc lên kế hoạch và thực hiện quản lý nghiêm ngặt tất cả các khâu liên quan đến việc tìm kiếm cầu và cung cho toàn bộ hệ thống của công ty.
Điều quan trọng hơn, quản trị này cũng sẽ yêu cầu sự phối hợp hiệu quả giữa các đối tác trong một chuỗi cung ứng toàn diện để đảm bảo rằng khách hàng luôn hài lòng. Mục tiêu chính của công việc quản lý chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị mà chuỗi tạo ra bằng cách sử dụng tài nguyên một cách linh hoạt và hiệu quả. Từ đó có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của nhiều nhóm khách hàng khác nhau. Sự thiết yếu của việc quản lý chuỗi cung ứng Các hoạt động kinh doanh và sản phẩm của các doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào cách quản lý chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay.
Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp công ty đạt được một số lợi ích cụ thể như: + Tiết kiệm chi phí: Doanh nghiệp có thể giảm chi phí lưu kho bãi và lượng hàng tồn kho khi họ quản lý và dự đoán rủi ro có thể xảy ra đối với chuỗi cung ứng. Điều này phụ thuộc vào tình hình tài chính của doanh nghiệp. + Lợi thế cạnh tranh: Chuỗi cung ứng đồng thời vừa là hoạt động mang lại trải nhiệm cho khách hàng, vừa chiếm tỷ trọng chi phí lớn trong cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì thế, giá thành sản phẩm giảm và chất lượng sản phẩm gia tăng sẽ mang tới những lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn đối với doanh nghiệp khi thực hiện việc quản trị chuỗi một cách hiệu quả.
+ Tác động tới sự phát triển: Khả năng chiếm lĩnh thị trường, sự tăng trưởng của doanh nghiệp và các hoạt động hướng tới sự hài lòng cho khách hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chuỗi cung ứng. Khi doanh nghiệp làm tốt công tác quản lý, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề với doanh nghiệp. Các mô hình quản lý chuỗi cung ứng phổ biến Tùy theo mức độ phát triển và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ có từng loại mô hình quản lý chuỗi cung ứng khác nhau phù hợp với tình hình thực tế được đưa vào danh sách chọn để lựa chọn. Tuy nhiên hai mô hình quản trị thường được dùng phổ biến nhất bao gồm: - Mô hình đơn giản: Đối với loại mô hình này, doanh nghiệp cần thực hiện mua nguyên phụ liệu đầu vào từ đơn vị cung ứng sau đó tự mình tiến hành các khâu sản xuất đồng thời vận chuyển nguyên liệu đó tới tận tay người tiêu dùng.
Như vậy, doanh nghiệp đã có thể tham gia vào chuỗi cung ứng chỉ với một vài các yếu tố đơn giản. - Mô hình phức tạp: Đối với loại hình này, doanh nghiệp trước tiên sẽ phải có những giải pháp xử lý các nguyên vật liệu trực tiếp hoặc trung gian tạo ra thành phẩm một cách hoàn hảo nhất khi đưa tới tay khách hàng. Bên cạnh đó, công tác vận chuyển cũng được tiến hành đa kênh với các đối tác vận chuyển là hoàn toàn khác nhau. Vai trò của hệ thống thông tin trong quản lý chuỗi cung ứng Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là liên quan với dòng chảy của sản phẩm và sự liên thông của thông tin giữa các thành viên tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng dây chuyền.
Sự phát triển gần đây của hệ thống thông tin cho phép các tổ chức để thông din dễ dàng trong cơ sở của họ. Hệ thống thông tin đóng vai trò mang tới hiệu quả cho quản lý chuỗi cung ứng bao gồm: - Tối ưu hóa nguồn lực: Trong việc giảm thiểu áp lực đối với nguồn nhân lực và giúp nhân sự làm việc tốt hơn thì ứng dụng công nghệ thông tin trong chuỗi cung ứng mang lại hiệu quả cao. Đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí để tập trung phát triển vào các hoạt động khác. - Khả năng dễ dàng quản lý: Nhờ có hệ thống thông tin mà hàng tồn kho, quá trình mua bán hàng, sản xuất, hoạch định cho tới việc vận tải và giao nhận sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Bên cạnh đó các đơn vị cũng thuận tiện trong việc bảo quản lưu trữ hồ sơ cũng như giới thiệu hàng hoá với người tiêu dùng. - Giảm thiểu rủi ro: Bằng cách sử dụng hệ thống thông tin, doanh nghiệp có thể hạn chế các tiêu cực, giảm thiểu những thiệt hại rủi ro và tình trạng gian lận trong chuỗi cung ứng. Ngoài ra, hệ thống thông tin còn giúp tăng cường khả năng theo kịp xu hướng số hoá mạnh mẽ của ngành cho phép doanh nghiệp tự động hóa toàn bộ quá trình từ khâu lên kế hoạch cho tới vận chuyển và hậu cần. Đặc biệt, hệ thống thông tin cũng giúp tối ưu hoá chuỗi cung ứng toàn cầu và vận hành trơn tru hơn.
Tài chính chuỗi cung ứng 1. Khái niệm tài chính chuỗi cung ứng Tài chính chuỗi cung ứng (SCF) được hiểu là một tập hợp các giải pháp tài chính nhằm mục tiêu tối đa hoá hiệu quả quản lý nguồn vốn gắn liền với các quy trình và hoạt động của chuỗi cung ứng. Về bản chất, đó là phương pháp tiếp cận hợp tác giữa ba bên: người mua, nhà cung cấp và tổ chức tài chính nhằm mục đích nâng cao hiệu suất, giảm thiểu chi phí và tăng cường khả năng thanh khoản trong chuỗi cung ứng. Trong một kịch bản SCF điển hình, các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng sẽ thực hiện giao sản phẩm, hoặc dịch vụ tới người mua, sau đó là bắt đầu xuất hoá đơn.
Thay vì chờ người mua thanh toán hoá đơn theo các điều khoản thông thường, nhà cung cấp có thể được ngân hàng hoặc đơn vị cung cấp tài chính thanh toán trước, số tiền thanh toán là số tiền trên hoá đơn trừ đi khoản chiết khấu. Khi đến hạn thanh toán của hóa đơn, người mua thanh toán tổng số tiền trên hoá đơn cho ngân hàng hoặc tổ chức cung cấp tài chính. Sự sắp xếp này mang lại lợi ích tổng thể đối với các bên tham gia: Nhà cung cấp được thanh toán sớm hơn, tối ưu hóa dòng tiền của họ, người mua có thể kéo dài thời hạn thanh toán và tối đa đối hưu hoá vốn lưu động của họ, các tổ chức tài chính cũng thu thêm một khoản phí đối với các nhà cung cấp. Mô hình Tài chính chuỗi cung ứng 4 1.
Các đặc điểm Tài chính chuỗi cung ứng Trên thực tế, các nhu cầu đặt ra nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng vốn hoặc đưa vốn vào chuỗi cung ứng là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có tác động từ sự toàn cầu hoá và tính chất phức tạp của thị trường cũng như chuỗi cung ứng và sự phát triển của quan hệ sản xuất – nhập khẩu. Xu hướng thị trường liên quan đến chuỗi cung ứng toàn cầu đã thúc đẩy các DN tạo dựng những hướng tiếp cận hoặc giải pháp linh hoạt, tích hợp cho những khó khăn về chuỗi cung ứng toàn cầu kể cả về vật chất lẫn tài chính. Chính vì vậy, một số đặc điểm tài chính của chuỗi cung ứng được mô tả như sau. Thứ nhất, các nền tảng công nghệ là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng các mô hình và quy trình đầu tư của SCF.
Mỗi sản phẩm SCF có những đặc trưng khác biệt riêng được phát triển tương ứng với những cải tiến công nghệ. Trên toàn cầu, việc gia tăng ứng dụng các giải pháp về SCF được đẩy mạnh chủ yếu bởi sự phát triển của Fintech và bên thứ ba cung cấp sản phẩm công nghệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, việc triển khai các loại hình này còn nhiều hạn chế.