Chương 1 VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Vi phạm pháp luật đất đai 1. Vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, trong bất kì một xã hội nào thì VPPL cũng bị nhà làm luật coi là hành vi bất hợp pháp nên về nguyên tắc chủ thể thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm pháp lý.TSKH Lê Văn Cảm: “VPPL là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bào vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi” [22, tr. Như vậy, một VPPL nói chung có các đặc điểm sau: Thứ nhất, VPPL luôn là hành vi khách quan xác định của con người (hành động hoặc không hành động).
Các quy định của pháp luật đặt ra để điều chỉnh các hành vi xử sự của con người chứ không phải điều chỉnh suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như những đặc tính đó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ; Thứ hai, VPPL là hành vi trái pháp luật của con người, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp với những quy định của pháp luật, thể hiện trên ba khía cạnh: không thực hiện những gì mà pháp luật yêu cầu; sử dụng vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép và thực hiện những gì mà pháp luật cấm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những gì mà pháp luật không cấm, không bảo vệ thì dù có làm trái cũng không bị coi là trái pháp luật, không phải là VPPL; Thứ ba,VPPL là hành vi có lỗi của chủ thể thực hiện. Có thể nói, mọi VPPL đều là hành vi trái pháp luật nhưng ngược lại không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là VPPL.
Chỉ những hành vi trái pháp luật nào được chủ thể thực hiện có lỗi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách cố ý hoặc vô ý mới bị coi là VPPL. Dấu hiệu trái pháp luật chỉ là dấu hiệu bên ngoài của hành vi, con yếu tố lỗi là dấu hiệu bên trong của hành vi đó. Lỗi là yếu tố không thể thiếu được để xác định VPPL. Nếu hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ thể hành vi đó không thể ý thức được hoặc không còn cách xử sự nào khác tốt hơn thì hành vi đó không thể coi là có lỗi, không thể là VPPL; Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đó phải là người có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý.
Nghĩa là họ có khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý do nhà nước áp dụng trong trường hợp VPPL. * Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật VPPL tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định xã hội. Do đó, một VPPL được nhận diện là yếu tố quyết định cho cơ quan chức năng xử lý. VPPL gồm bốn yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật.
Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế. Việc xác định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý, nhờ đó mà tìm ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng, tìm ra nguyên nhân của vi phạm pháp luật, và còn đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy mà ta có thể thấy việc phân tích các yếu tố làm cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng. - Mặt khách quan của VPPL Là những biểu hiện bên ngoài của VPPL, gồm: + Hành vi trái pháp luật: Để truy cứu trách nhiệm pháp lý cần phải xác định được trên thực tế đã xảy ra hành vi trái pháp luật nghĩa là có sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế, sự kiện đó do hành vi của con người gây nên và nó trái pháp luật.
+ Sự thiệt hại của xã hội: Là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu. Mức độ nguy hiểm của hành vi được biểu hiện qua mức độ thiệt hại của xã hội do hành vi đó gây ra. Nếu không có thiệt hại xảy ra hoặc nguy cơ xảy ra sự thiệt hại đối với xã hội thì hành vi đó không có tính nguy hiểm cho xã hội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội, nghĩa là hành vi nào thì thiệt hại đó, thiệt hại phải do hành vi trái pháp luật đó gây ra nếu không xác định được mối quan hệ nhân quả này thì phải khẳng định thiệt hại của xã hội không phải do hành vi trái pháp luật trực tiếp gây ra mà có thể do nguyên nhân khác.
Ngoài ra, mặt khách quan của VPPL còn bao gồm: Không gian, thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện hành vi VPPL. - Mặt chủ quan của VPPL + Lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi cũng như hậu quả của nó. Lỗi được xem như thước đo của trách nhiệm pháp lý, nó biểu hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội, bao gồm: lỗi cố ý (lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp), lỗi vô ý (lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả) + Động cơ, mục đích VPPL: Được hiểu là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật và kết quả cuối cùng mà trong suy nghỉ chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật. - Chủ thể của VPPL Chủ thể của VPPL là cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý.
Nếu chủ thể đó là cá nhân thì cần xem xét người đó đã đạt độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực vi phạm không, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi hay không, trạng thái tâm lý của họ khi thực hiện hành vi đó như thế nào. - Khách thể của VPPL Khách thể của VPPL là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại. Tính chất của khách thể cũng phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi VPPL Chủ thể thực hiện hành vi VPPL tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm sẽ bị xử lý bằng các loại trách nhiệm pháp lý hình sự, hành chính, dân sự hoặc trách nhiệm pháp lý kỷ luật. Trong đó, trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với trường hợp vi phạm mà mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn các loại trách nhiệm pháp lý còn lại.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vi phạm pháp luật đất đai 1. Khái niệm vi phạm pháp pháp luật đất đai Việc quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai, tuy nhiên một lượng không nhỏ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý đất trong quá trình thi hành công vụ đã có những hành vi VPPL đất đai như: Vi phạm về hồ sơ hồ sơ và mốc địa giới hành chính; vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất…Ngoài ra, người sử dụng đất cũng có những hành vi VPPL đất đai cũng rất phổ biến như lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất, sử dụng đất sai mục đích, chuyển nhượng đất sai quy định của pháp luật… Để có cơ sở nhận diện và xử lý các hành vi VPPL đất đai trước hết cần làm rõ VPPL đất đai là gì. Trên cơ sở phân tích các nội hàm của VPPL nói chung chúng ta có thể đưa ra khái niệm VPPL đất đai như sau: Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ về đất đai được pháp luật về đất đai bảo vệ.
Đặc điểm của vi phạm pháp luật đất đai VPPL đất đai là một loại VPPL vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của VPPL nói chung như đã phân tích ở phần trên, ngoài ra có các đặc điểm riêng sau đây: Thứ nhất, hành vi VPPL đất đai là hành vi xác định của con người xâm hại đến quan hệ pháp luật được pháp luật đất đai bảo vệ; Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi VPPL đất đai là những chủ thể liên quan đến quản lý, sử dụng đất gồm chủ thể sử dụng đất và chủ thể đặc biệt là những cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý đất. Có thể phân chia chủ thể của VPPL đất đai thành 03 nhóm chính sau: - Nhóm chủ thể là người có hành vi VPPL về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai; - Nhóm chủ thể là người sử dụng đất sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhóm chủ thể là tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai trên lãnh thổ Việt Nam. Thứ ba, khách thể mà VPPL đất đai xâm hại đến là sự quản lý, sử dụng đúng đắn đất đai theo quy định của Nhà nước.