Tổng quan nghiên cứu

Ngành lúa gạo giữ vị thế trụ cột trong cơ cấu nông sản xuất khẩu của Việt Nam, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu lũy kế hơn 69,8 triệu tấn gạo với tổng kim ngạch vượt 18,5 tỷ USD tới 128 thị trường trên thế giới. Riêng năm 2009, lượng gạo xuất khẩu đạt kỷ lục 6,0 triệu tấn, thu về 2,662 tỷ USD và chiếm 20,62% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu, củng cố vững chắc vị trí nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới.

Tuy nhiên, giá trị gia tăng thu về của ngành gạo Việt Nam vẫn ở mức thấp khi giá bán bình quân thường thấp hơn sản phẩm cùng loại của Thái Lan từ 30 đến 35 USD/tấn. Phần lớn gạo xuất khẩu vẫn tập trung ở phân khúc phẩm cấp trung bình, chất lượng thiếu đồng nhất, công nghệ sau thu hoạch còn lạc hậu và chuỗi cung ứng phụ thuộc nặng nề vào tầng nấc trung gian.

Nghiên cứu được triển khai nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận thương mại quốc tế, phân tích toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến và thương mại hóa lúa gạo tại các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Lương thực Việt Nam trong giai đoạn 2007 đến 6 tháng đầu năm 2010. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

Không gian nghiên cứu tập trung vào khối doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nơi quy tụ các đầu mối đảm nhiệm trên 90% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Kết quả nghiên cứu mở ra định hướng tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao từ 36,58% lên trên 50%, giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch từ mức 10% đến 12% xuống dưới 8%, đồng thời đảm bảo mức lợi nhuận tối thiểu 30% cho người nông dân trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên các trụ cột lý thuyết thương mại quốc tế kinh điển và hiện đại:

Thứ nhất, Thuyết trọng thương nhấn mạnh vai trò thúc đẩy ngoại thương để gia tăng của cải quốc gia và khẳng định tầm quan trọng của việc Nhà nước can thiệp điều hành xuất khẩu thông qua các chính sách bảo hộ, quản lý giá sàn và hạn ngạch thương mại.

Thứ hai, Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo giải thích tại sao Việt Nam cần tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất lúa gạo. Lợi thế thâm canh, điều kiện tự nhiên tại Đồng bằng sông Cửu Long giúp chi phí sản xuất lúa tại đây thuộc nhóm thấp nhất Đông Nam Á, chỉ bằng 80% đến 95% so với Thái Lan và chi phí lao động chỉ bằng 1/3. Tuy nhiên, Ricardo chỉ rõ lợi thế so sánh không cố định mà thay đổi theo trình độ khoa học công nghệ, đòi hỏi doanh nghiệp phải chuyển từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế công nghệ chế biến.

Thứ ba, Lý thuyết Heckscher - Ohlin, Lý thuyết lợi thế nhờ quy mô và Lý thuyết khác biệt hóa sản phẩm cung cấp luận cứ cho việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung, phát triển các dòng sản phẩm đặc sản để vượt khỏi phân khúc hàng hóa thông thường.

Thứ tư, Lý thuyết phát triển bền vững đặt ra yêu cầu phải chuyển giao quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP), bảo vệ tài nguyên đất và nguồn nước trước thực trạng biến đổi khí hậu.

Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu gồm: chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu, phẩm cấp gạo theo tỷ lệ tấm (5%, 10%, 15%, 25%), cơ chế giá sàn xuất khẩu và tiêu chuẩn GAP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh chỉ số để làm rõ các biến động thị trường. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các tổ chức uy tín gồm AgroInfo, AgroMonitor, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, FAO và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ giai đoạn 2007 đến 2010.

Để đảm bảo tính xác thực, tác giả tiến hành điều tra sơ cấp với cỡ mẫu gồm 46 doanh nghiệp hoàn thành phiếu khảo sát hợp lệ trên tổng số 100 phiếu phát ra tới 109 doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (đạt tỷ lệ phản hồi 46%). Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo hình thức chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu thuận tiện, tiếp cận trực tiếp các giám đốc điều hành, trưởng phòng kinh doanh xuất nhập khẩu qua email, thư tín và phỏng vấn trực tiếp từ tháng 4/2010 đến tháng 8/2010.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và xử lý trên phần mềm Excel là nhằm lượng hóa trực quan cơ cấu chủng loại gạo, mức độ sẵn sàng đầu tư vùng nguyên liệu và các rào cản chuỗi cung ứng thực tế tại doanh nghiệp, tạo cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy cho việc hoạch định giải pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng xuất khẩu gạo giai đoạn 2007-2009 tại các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Lương thực Việt Nam mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu phẩm cấp gạo xuất khẩu đã có chuyển dịch nhưng tỷ trọng gạo giá trị thấp vẫn chiếm ưu thế. Năm 2007, gạo chất lượng trung bình (15% đến 25% tấm) chiếm 71,22%, đến năm 2009 con số này giảm 30,38% nhưng vẫn ở mức 63,42% tổng sản lượng. Ngược lại, nhóm gạo cao cấp (5% đến 10% tấm) tăng 64,98%, từ 25,48% năm 2007 lên 36,58% năm 2009. Mặc dù có cải thiện, tỷ lệ gạo cao cấp của Việt Nam vẫn thấp hơn rất nhiều so với mức trên 70% của Thái Lan.

Thứ hai, thị trường xuất khẩu có sự tập trung cao độ và phụ thuộc vào các hợp đồng tập trung. Năm 2009, 4 thị trường Đông Nam Á gồm Philippines, Malaysia, Singapore và Indonesia chiếm 2,45 triệu tấn, tương đương 43,8% sản lượng và 49,22% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, Philippines là thị trường lớn nhất với 1,59 triệu tấn, chiếm 28,38% về lượng và 34,5% về giá trị. Thị trường châu Phi có mức tăng trưởng mạnh 41,7% đạt 1,67 triệu tấn nhưng chủ yếu giao dịch qua trung gian quốc tế thay vì xuất khẩu trực tiếp.

Thứ ba, sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa khâu sản xuất và thương mại. Khảo sát thực tế chỉ ra 95,65% doanh nghiệp VFA không trực tiếp tham gia trồng lúa mà phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thương lái thu gom. Quy mô canh tác của nông dân rất manh mún khi 60% thửa ruộng tại Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích từ 0,1 đến 0,5 ha. Hệ thống cung ứng giống lúa chính quy chỉ đáp ứng được 9% nhu cầu, 70% diện tích gieo sạ sử dụng lúa thịt tự để giống, dẫn đến tình trạng một lô hàng xuất khẩu bị pha tạp hàng chục giống lúa khác nhau.

Thứ tư, mức độ tập trung sản lượng vào nhóm doanh nghiệp đầu mối lớn. Trong số hơn 200 doanh nghiệp xuất khẩu, top 20 doanh nghiệp lớn nhất chiếm tới 84,28% đến 89,16% thị phần. Riêng 18 doanh nghiệp hội viên lớn của Hiệp hội Lương thực Việt Nam nắm giữ trên 80,27% sản lượng cả nước, trong đó Tổng công ty Lương thực Miền Nam chiếm từ 42,79% đến 47% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

Thảo luận kết quả

Thực trạng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn ở mức thấp bắt nguồn từ sự lạc hậu trong công nghệ sau thu hoạch. Tỷ lệ cơ giới hóa khâu thu hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long mới đạt khoảng 20%, khâu làm khô chủ yếu dựa vào phơi nắng tự nhiên trên sân phơi không đạt chuẩn, tỷ lệ sấy máy rất thấp khiến tỷ lệ hạt gãy cao và độ ẩm thường vượt ngưỡng tiêu chuẩn 14%, gây ẩm mốc và giảm phẩm cấp nhanh chóng khi lưu kho.

Khi so sánh với Thái Lan và Hoa Kỳ, khoảng cách năng lực thể hiện rất rõ. Thái Lan quy hoạch vùng chuyên canh tập trung tới 80% diện tích trồng giống Khaodawkmali 105, sở hữu hệ thống kho trữ bảo quản hiện đại với năng lực tích trữ 4,037 triệu tấn gạo năm 2009, giúp họ chủ động giữ hàng chờ giá cao. Hoa Kỳ lại tối ưu hóa công nghệ phân loại và chế biến sâu giúp giá gạo xuất khẩu cao hơn Thái Lan từ 30 đến 35 USD/tấn. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam thiếu hạ tầng kho bãi, chịu áp lực quay vòng vốn nhanh nên thường bị đối tác nước ngoài ép giá vào mùa thu hoạch rộ.

Hơn nữa, công tác điều hành của Hiệp hội Lương thực Việt Nam từng bộc lộ sự thiếu linh hoạt. Việc tạm ngưng xuất khẩu vào tháng 4/2008 khi giá thế giới đạt đỉnh trên 1.000 USD/tấn đã gây thiệt hại hàng trăm triệu USD. Đến tháng 12/2008, khi bãi bỏ giá sàn, hiện tượng cạnh tranh phá giá giữa các doanh nghiệp nội địa đã kéo giá gạo từ 400 USD/tấn xuống dưới 360 USD/tấn, gây thiệt hại trực tiếp cho nông dân.

Các phát hiện này có thể được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng cơ cấu phẩm cấp gạo trắng xuất khẩu giai đoạn 2007-2009 và biểu đồ thể hiện tỷ trọng thị phần của 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất, minh chứng cho tính cấp thiết của việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao giá trị hạt gạo và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu bền vững, các chủ thể cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược sau:

Thứ nhất, thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu vùng nguyên liệu sạch.

  • Hành động: Ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn giữa doanh nghiệp xuất khẩu với hợp tác xã nông nghiệp; cung cấp giống lúa xác nhận và chuyển giao kỹ thuật canh tác đạt chuẩn GlobalGAP hoặc VietGAP.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao lên trên 65%, đảm bảo biên lợi nhuận cho người trồng lúa đạt tối thiểu 30% đến 35% trên chi phí sản xuất.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2011 đến 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp thành viên VFA phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ hai, đầu tư hiện đại hóa công nghệ cơ giới hóa và hệ thống bảo quản sau thu hoạch.

  • Hành động: Trang bị máy gặt đập liên hợp công suất lớn, lắp đặt hệ thống sấy tầng sôi và xây dựng mạng lọc kho silo dự trữ có kiểm soát nhiệt độ ẩm tự động.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ gặt máy lên 60%, giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch từ 12% xuống dưới 6%, kiểm soát độ ẩm hạt gạo đạt mức chuẩn 14%.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2012 đến 2016.
  • Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp xuất khẩu gạo đầu mối, tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Thứ ba, cơ cấu lại danh mục sản phẩm và xây dựng thương hiệu gạo quốc gia.

  • Hành động: Thu hẹp diện tích giống lúa phẩm cấp thấp (như IR 50404), tập trung lai tạo và nhân rộng các giống lúa thơm đặc sản như Jasmine 85, Khaodawkmali 105 và các dòng lúa chịu mặn.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ trọng gạo cao cấp 5% tấm và gạo đặc sản lên chiếm trên 55% cơ cấu xuất khẩu, tăng giá trị bình quân thêm 25 đến 30 USD/tấn.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2011 đến 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các doanh nghiệp chế biến.

Thứ tư, đổi mới cơ chế điều hành xuất khẩu và phát triển kênh phân phối trực tiếp.

  • Hành động: Tinh giản thủ tục đăng ký hợp đồng xuất khẩu, chuyển giao quyền quản lý hạn ngạch sang cơ quan chuyên trách của Bộ Công Thương; đẩy mạnh thiết lập văn phòng thương mại tại thị trường châu Phi và Trung Đông để bỏ bớt khâu trung gian quốc tế.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ giao dịch xuất khẩu trực tiếp sang thị trường châu Phi lên 45%, minh bạch hóa 100% việc phân bổ hạn ngạch tập trung.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2011 đến 2014.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao (hệ thống Thương vụ Việt Nam) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là Ban điều hành các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và thành viên Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng về chuỗi giá trị và cấu trúc chi phí, giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn để xây dựng phương án liên kết cánh đồng mẫu lớn, đầu tư kho silo từ 5.000 đến 10.000 tấn và lựa chọn thời điểm chốt giá xuất khẩu tối ưu.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng chính quyền các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát quy chế điều hành xuất khẩu gạo, hoàn thiện cơ chế giá sàn và hoạch định chiến lược bảo vệ diện tích 3,5 đến 3,8 triệu ha đất lúa chuyên canh trước áp lực đô thị hóa.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại và Quản trị chuỗi cung ứng. Đề tài đóng vai trò như một case study hoàn chỉnh về việc vận dụng các lý thuyết thương mại quốc tế vào một ngành hàng nông sản chủ lực, với phương pháp xử lý số liệu điều tra thực tế từ 46 doanh nghiệp.

Nhóm thứ tư là Ban quản trị các Hợp tác xã nông nghiệp và cán bộ khuyến nông địa phương. Tài liệu giúp định hình quy trình chuyển đổi cơ cấu giống lúa, liên kết trực tiếp với doanh nghiệp để loại bỏ thương lái ép giá, đồng thời áp dụng chuẩn canh tác GAP nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Việt Nam xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới nhưng giá bán bình quân thường thấp hơn Thái Lan?

Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu giống lúa của Việt Nam chưa đồng nhất, 70% diện tích sử dụng giống tự để giống và tỷ trọng gạo chất lượng trung bình (15% đến 25% tấm) chiếm tới 63,42% năm 2009. Bên cạnh đó, công nghệ sấy và kho trữ bảo quản lạc hậu làm tỷ lệ hạt gãy cao, khiến giá gạo xuất khẩu thường thấp hơn Thái Lan từ 30 đến 35 USD/tấn.

Việc 95,65% doanh nghiệp VFA không trực tiếp trồng lúa gây ra rủi ro gì cho hoạt động xuất khẩu?

Việc không tham gia canh tác khiến doanh nghiệp mất kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào và hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống thương lái thu mua tự do. Tình trạng thương lái trộn lẫn nhiều giống lúa hạt dài và hạt ngắn khi xay xát làm mất tính đồng nhất của hạt gạo, gây khó khăn cho việc kiểm định dư lượng hóa chất và không thể xây dựng thương hiệu gạo cao cấp.

Cơ chế điều hành giá sàn xuất khẩu của VFA trong giai đoạn nghiên cứu bộc lộ những bất cập nào?

Việc can thiệp giá sàn thiếu linh hoạt từng gây thiệt hại lớn cho ngành lúa gạo. Điển hình năm 2008, khi bỏ mức giá sàn hướng dẫn, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh đã kéo giá xuất khẩu từ hơn 400 USD/tấn xuống dưới 360 USD/tấn. Ngược lại, việc áp giá sàn cứng nhắc vào các thời điểm cung - cầu biến động mạnh khiến doanh nghiệp đánh mất cơ hội ký kết hợp đồng thương mại lớn.

Thị trường châu Phi có tiềm năng và rào cản gì đối với gạo xuất khẩu Việt Nam?

Châu Phi là thị trường tiêu thụ rất lớn, năm 2009 Việt Nam xuất khẩu sang đây 1,67 triệu tấn (tăng 41,7%), với các quốc gia nhập khẩu lớn như Senegal, Bờ Biển Ngà, Kenya. Rào cản lớn nhất là doanh nghiệp Việt Nam chưa thiết lập được kênh phân phối trực tiếp mà phải bán qua các tập đoàn thương mại trung gian của Hoa Kỳ và châu Âu, làm giảm đáng kể biên lợi nhuận.

Đâu là giải pháp đột phá để nâng cao giá trị hạt gạo xuất khẩu của Việt Nam?

Giải pháp đột phá là quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung theo mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với doanh nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng tiêu chuẩn GAP và nâng tỷ lệ giống xác nhận lên trên 65%. Song song đó, việc đầu tư đồng bộ hệ thống sấy cơ giới và kho silo trữ lúa sẽ giúp kiểm soát độ ẩm 14%, giảm tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch và nâng tỷ trọng gạo cao cấp 5% tấm lên trên 55%.

Kết luận

  • Ngành lúa gạo Việt Nam khẳng định vị thế trụ cột xuất khẩu toàn cầu với quy mô 6,0 triệu tấn năm 2009, đóng góp trên 18,5 tỷ USD kim ngạch sau 21 năm phát triển.
  • Các hạn chế cốt lõi được định vị rõ nét gồm: cơ cấu sản phẩm thiên về gạo cấp thấp (63,42%), công nghệ sau thu hoạch yếu kém và chuỗi cung ứng phụ thuộc tới 95,65% vào thương lái.
  • Nhóm 18 doanh nghiệp lớn của Hiệp hội Lương thực Việt Nam giữ vai trò đầu tàu chi phối trên 80% thị phần xuất khẩu quốc gia.
  • Hệ thống 4 giải pháp đồng bộ gồm liên kết bao tiêu vùng nguyên liệu, hiện đại hóa kho silo sấy trữ, cơ cấu lại giống lúa đặc sản và tinh gọn cơ chế điều hành ngoại thương.
  • Chiến lược phát triển dài hạn đòi hỏi ngành gạo phải chuyển dịch dứt khoát từ mục tiêu chạy theo số lượng sang nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng và bảo đảm lợi ích cho người nông dân.

Lộ trình triển khai các nhóm giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2011-2015, tập trung chuẩn hóa 65% diện tích lúa xuất khẩu theo tiêu chuẩn chất lượng cao. Các doanh nghiệp xuất khẩu và nhà hoạch định chính sách cần nhanh chóng chuyển hóa các khuyến nghị nghiên cứu thành hành động thực tế nhằm tái định vị thương hiệu hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế.