Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng hiệu quả xuất khẩu cao su tại Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu cao su thiên nhiên tại Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng đến năm 2020 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia.
Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Các khái niệm, quan điểm về hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Xuất khẩu là một hình thức kinh doanh quan trọng nhất của hoạt động thương mại quốc tế với địa bàn kinh doanh hàng hóa được mở rộng sang nhiều quốc gia, lãnh thổ khác nhau. Do đó về mặt bản chất, ta có thể xem hiệu quả xuất khẩu là một hình thức của hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả được đề cập ở đây là hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả xuất khẩu nói riêng. Theo Phạm Quang Sáng (2011), hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Hiệu quả tuyệt đối = Kết quả - Chi phí Hiệu quả tương đối = Kết quả / Chi phí Theo từ điển bách khoa toàn thư (http://bachkhoatoanthu.vn/): hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất.
Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Cũng theo từ điển bách khoa toàn thư : hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu.
Theo Nguyễn Năng Phúc (2007), chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, được xác định bằng công thức. Hiệu quả kinh doanh = Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng chi phí đầu vào trong chu kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn (Nguyễn Năng Phúc, 2007, trang 418). Tóm lại, hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu là những chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả thu được so sánh với chi phí bỏ ra để thực hiện kinh doanh xuất khẩu. Hay nói cách khác là những chỉ tiêu phản ánh đầu ra của quá trình kinh doanh xuất khẩu trong quan hệ so sánh với các yếu tố đầu vào (Võ Thanh Thu, 2010, trang 310).
Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh xuất khẩu 1. Các yếu tố thuộc môi trƣờng bên ngoài Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài có tác động đến hoạt động của DN từ đó ảnh hưởng hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của DN gồm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, bao gồm môi trường kinh tế, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường văn hóa xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường công nghệ và môi trường kinh doanh quốc tế. + Môi trƣờng kinh tế: là môi trường có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu của DN. Các yếu tố chính của môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của DN trong nền kinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tế bao gồm: giai đoạn của chu kỳ kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán, tình hình đầu tư… + Môi trƣờng chính trị, pháp luật: mọi doanh nghiệp đều chịu sự tác động của môi trường chính trị, pháp luật.
Môi trường pháp luật rõ ràng, minh bạch là điều kiện để DN yên tâm hoạt động. Đối lập là môi trường pháp luật thường xuyên thay đổi, không nhất quán, không rõ ràng minh bạch và môi trường chính trị không ổn định, tranh giành giữa các phe phái, nguy cơ cao về xung đột, nội chiến, chiến tranh… tất yếu không thể là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của DN. + Môi trƣờng văn hóa – xã hội: các yếu tố thuộc môi trường văn hóa - xã hội bao gồm: hệ thống các giá trị, chuẩn mực, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ, nghề nghiệp, phong tục tập quán, truyền thống, trình độ nhận thức, trình độ học vấn chung trong xã hội, khuynh hướng tiêu dùng…, tất cả những yếu tố này đều có ảnh hưởng đến tiêu dùng, thói quen tiêu dùng, hành vi mua hàng, quyết định lựa chọn sản phẩm. Chính vì vậy, văn hóa là yếu tố chi phối lối sống nên các nhà xuất khẩu cần quan tâm tìm hiểu yếu tố văn hóa ở các thị trường mà minh tiến hành một hoạt động xuất khẩu.
+ Môi trƣờng tự nhiên: các điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên, môi trường… đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và là yếu tố đầu vào đối với nhiều ngành kinh tế quan trọng. Các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, về vị trí địa lý giúp thuận tiện trong giao thương, vận tải, buôn bán hoặc sự dồi dào về tài nguyên khoán sản, hay ý thức pháp luật về khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường… đều có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp. + Môi trƣờng công nghệ: tốc độ phát minh và ứng dụng công nghệ mới, luật sở hữu trí tuệ, bảo vệ bản quyền, tác quyền, tài trợ của chính phủ cho phát minh công nghệ, nghiên cứu khoa học… là những yếu tố quan trọng trong môi trường công nghệ. Sự biến động của các yếu tố này là nền tảng của sự thay đổi trong môi trường công nghệ, mang đến cho DN cơ hội với những phát minh mới, sản phẩm mới, công nghệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mới nhưng đồng thời cũng mang đến rủi ro, thách thức và áp lực trong việc phải đổi mới để thích nghi hay tụt hậu trong môi trường công nghệ và môi trường cạnh tranh.
+ Môi trƣờng kinh doanh quốc tế: những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế rất cần phải quan tâm đến các yếu tố vĩ mô của các nước mà DN có đối tác kinh doanh, và cần quan tâm đến những biến động lớn trong môi trường kinh doanh quốc tế. Với những tập đoàn đa quốc gia hoạt động kinh doanh xuyên khắp các châu lục, việc phải nắm bắt, nghiên cứu biến động của môi trường kinh doanh toàn cầu có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của tập đoàn. Những yếu tố thuộc môi trường vi mô (hay môi trường ngành – môi trường cạnh tranh) – theo Michael E.Porter bao gồm: khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh hiện hữu, các sản phẩm thay thế, đối thủ mới tiềm năng. + Khách hàng: là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Không có khách hàng, DN sẽ không thể có được hoạt động kinh doanh. Nếu số lượng khách hàng ít, khách hàng không ổn định, không trung thành… sẽ tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. + Nhà cung cấp: là một phần trong chuỗi giá trị của DN. Nhà cung cấp là đối tác cung cấp nguyên liệu đầu vào giúp DN.
Những nhà cung cấp có uy tín, cung cấp hàng hóa đạt chất lượng, đảm bảo thời gian sẽ góp phần giúp quá trình sản xuất kinh doanh của DN không bị gián đoạn và đạt hiệu quả cao. Ngược lại những nhà cung cấp không có đủ năng lực, không đảm bảo yếu tố thời gian và chất lượng nguyên liệu cung ứng đầu vào sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của DN. Việc lựa chọn đối tác cung cấp nguyên vật liệu vì vậy là quan trọng, DN cần hợp tác với những nhà cung cấp có uy tín, có năng lực, nguồn hàng ổn định… + Đối thủ cạnh tranh hiện hữu, các sản phẩm thay thế: khi DN hoạt động trong lĩnh vực có nhiều đối thủ cạnh tranh, hoặc trong ngành hàng có nhiều sản phẩm khác mà khách hàng có thể lực chọn thay thế cho sản phẩm DN đang kinh doanh, DN sẽ phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Áp lực cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tranh buộc DN phải luôn cố gắng đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh.
Chỉ như vậy mới có thể cạnh tranh và phát triển. + Những đối thủ tiềm năng: cũng như đối với các đối thủ cạnh tranh hiện hữu, những đối thủ mới tiềm năng đe dọa xâm nhập ngành là áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN. Các yếu tố thuộc môi trƣờng bên trong Trong hoạt động hàng ngày, DN phải tiến hành các hoạt động quản trị, tài chính, sản xuất, phân phối, bán hàng, nghiên cứu và phát triển… Và tất cả các hoạt động này đều có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN. Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường bên trong bao gồm: + Công tác hoạch định, xây dựng chiến lƣợc kinh doanh và chiến lƣợc marketing: việc hoạch định, xây dựng chiến lược kinh doanh - bao gồm chiến lược marketing – luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của DN.