chương 1, luận văn hệ thống lý thuyết về văn hóa doanh nghiệp, bao gồm: khái niệm về văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa doanh nghiệp; chức năng; vai trò và cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp; các mô hình văn hóa doanh nghiệp. Từ đó, chọn ra mô hình phù hợp làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại công ty CMA CGM Việt Nam ở chương 2.1 Khái niệm về văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa doanh nghiệp 1.1 Văn hóa Văn hóa là khái niệm mang hàm ý rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Nói đến khái niệm văn hóa, hiện nay có hai cách hiểu: - Vi mô: văn hóa là trình độ học vấn, là văn hóa nghệ thuật. - Vĩ mô: văn hóa không chỉ là trình độ học vấn, là văn hóa nghệ thuật mà đó là tất cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của con người tạo ra trong hoạt động sống của mình.
Theo cách thứ nhất, vai trò và phạm vi của văn hóa còn rất nhiều hạn chế. Cách thứ hai cho thấy, vai trò và phạm vi ảnh hưởng của văn hóa là rất to lớn: văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,. Cả hai khía cạnh đều cần thiết và đó là một phần của văn hóa. Đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng hầu hết đều đề cập đến hoạt động của con người (bao gồm cả hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần), về giá trị, vai trò nảy sinh từ những hoạt động đó.
- Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1942: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những sinh hoạt hàng ngày về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi về sự sinh tồn.” - Định nghĩa nêu trong Từ điển Triết học do Nhà xuất bản Chính trị Mátxcơva ấn hành năm 1972: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo và, trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của lịch sử loài người.” - Định nghĩa của UNESCO trong bài “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” năm 2002: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm tình cảm, tri thức, vật chất và tinh thần của xã hội. Nó không chỉ thuần túy bó hẹp trong các hoạt động sáng tác nghệ thuật, mà bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống tín ngưỡng.” Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của con người, được sáng tạo, gìn giữ và phát triển trong quá trình tương tác giữa con người với nhau cũng như với tự nhiên và xã hội.2 Văn hóa tổ chức Một trong những chủ đề lớn của quản trị hiện đại là văn hóa tổ chức.
Trong khoảng một thập niên vừa qua, khái niệm này được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu và quản trị tổ chức, để đề cập về môi trường và các thực tiễn mà các tổ chức phát triển xung quanh việc đối xử với con người, hoặc đề cập đến những giá trị được tán đồng và niềm tin của một tổ chức. Khi con người tham gia một tổ chức, họ mang theo vào tổ chức những giá trị và niềm tin mà họ đã học được. Tuy nhiên, những giá trị và niềm tin đó không đủ để giúp các cá nhân thành công trong một tổ chức. Con người cần học cách thức mà một tổ chức cụ thể giải quyết các vấn đề.
Ở các tổ chức trên thế giới ngày nay, một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu là dạy cho người lao động hiểu biết sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức, các giá trị, niềm tin cũng như những hành vi mong đợi trong tổ chức – đó chính là văn hóa tổ chức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Schein (1992) định nghĩa văn hóa tổ chức: “Một dạng của những giả định cơ bản, được sáng tạo, được khám phá hoặc được phát triển bởi các nhóm khi họ học về cách thức giải quyết những vấn đề của thích ứng với môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong – những giả định cơ bản này đã vận hành tốt và được quan tâm là có giá trị và vì vậy được dạy cho những thành viên mới như những cách thức đúng để nhận thức, suy nghĩ, và cảm giác trong quan hệ với các vấn đề.” Theo định nghĩa này, bất kỳ nhóm nào có sự ổn định thành viên và có lịch sử học hỏi kinh nghiệm chung, sẽ phát triển một cấp độ văn hóa nào đó. Ngược lại, một nhóm có sự luân chuyển quá lớn trong thành viên và người lãnh đạo, hoặc trong lịch sử trải qua nhiều sự kiện hay thách thức thì rất có thể sẽ thiếu các quan điểm chung. Không phải mọi tập hợp con người đều có thể phát triển văn hóa.
Thực tế, chúng ta sử dụng từ nhóm, thay cho đám đông hay tập hợp con người, chỉ khi đã có một lịch sử chung đủ dài, để một mức độ kiến tạo văn hóa nào đó được diễn ra. Denison (2009) định nghĩa: “Văn hóa là cách mà mọi thứ diễn ra xung quanh. Văn hóa tổ chức là những niềm tin, giá trị và hành vi được tổ chức chấp nhận theo thời gian như là một cách để tồn tại và thành công.” Martin (2010) chú trọng vào những viễn cảnh khác nhau của văn hóa trong các tổ chức: “Khi một cá nhân liên hệ với một tổ chức, họ liên hệ với những chuẩn mực, những câu chuyện mà mọi người kể về những điều đang diễn ra, những thủ tục và nguyên tắc chính thức của tổ chức, những dạng hành vi chính thức của tổ chức, những nghi lễ, nhiệm vụ, hệ thống trả công lao động, những biệt ngữ,… mà chỉ những người bên trong mới hiểu. Những yếu tố này là một phần những cái gắn liền với văn hóa tổ chức.” Từ đây có thể thấy, văn hóa tổ chức là một chủ đề phức tạp.
Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về khái niệm này, song phần lớn đã nhận dạng tầm quan trọng của những chuẩn mực và giá trị chung chỉ dẫn các hành vi của các cá nhân trong tổ chức. Sự thật là những giá trị và chuẩn mực này không chỉ được dạy cho những người mới đến, mà những người mới đến cũng cố gắng và muốn học về văn hóa tổ chức của họ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là một phần trong văn hóa tổ chức. Theo Deal và Kennedy (1982): “Văn hóa doanh nghiệp đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình.” Theo Kotter và Heskett (1992): “Văn hóa doanh nghiệp thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài.” Theo Đỗ Minh Cương (2001): “Văn hóa doanh nghiệp thực chất là văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể.” Như vậy, văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý tưởng chung được xây dựng bởi thành viên của doanh nghiệp nhằm phân biệt với các doanh nghiệp khác.
7 đặc điểm cơ bản cho thấy cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp: - Đổi mới và mạo hiểm: mức độ nhân viên được khuyến khích phải đổi mới và mạo hiểm. - Chú ý tới từng tiểu tiết: mức độ nhân viên được kỳ vọng chính xác trong phân tích và chú ý tới từng chi tiết. - Định hướng kết quả: mức độ nhà quản lý tập trung vào kết quả hơn là kỹ thuật và quy trình áp dụng để đạt được kết quả đó. - Định hướng con người: mức độ mà các quyết định quản lý được đưa ra trong nỗ lực cân nhắc về hiệu quả công việc đối với người lao động trong doanh nghiệp.
- Định hướng nhóm: mức độ mà các hoạt động công việc được tổ chức theo nhóm thay vì cá nhân. - Tính quyết đoán: mức độ quyết đoán và ganh đua của mọi người. - Sự ổn định: mức độ các hoạt động của doanh nghiệp nhấn mạnh tập trung duy trì vị thế bên trong thay vì sự phát triển. Văn hóa doanh nghiệp liên quan đến cách nhân viên nhận thức đặc tính của văn hóa doanh nghiệp, chứ không phải cách họ thích nó hay không – tức đây là một thuật ngữ mang tính chất mô tả.
Điều này phân biệt sự khác nhau giữa văn hóa doanh nghiệp và sự thỏa mãn trong công việc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp nhằm tìm hiểu xem nhân viên nhìn nhận doanh nghiệp của mình như thế nào: Doanh nghiệp có khuyến khích làm việc nhóm không? Có tưởng thưởng cho hoạt động đổi mới không? Có kìm hãm sự sáng tạo không? Trong khi đó, nghiên cứu sự thỏa mãn trong công việc nhằm tìm hiểu cảm giác của nhân viên về kỳ vọng của doanh nghiệp, hình thức thưởng,… Mặc dù hai thuật ngữ này có những đặc tính chồng chéo, nhưng văn hóa doanh nghiệp mang tính chất mô tả, trong khi sự thỏa mãn công việc mang tính chất đánh giá. Tóm lại, văn hóa doanh nghiệp cần phải thể hiện được hai tính chất - ổn định và linh hoạt - ổn định trong tầm nhìn, giá trị và sứ mệnh, nhưng linh hoạt trong cấu trúc và hoạt động. Văn hóa doanh nghiệp cần phải tập trung vào cả sự thích ứng với môi trường bên ngoài cũng như sự kết hợp trong nội bộ - thích ứng với khách hàng và thị trường, đồng thời làm nhân viên hài lòng.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hiệu quả trong văn hóa doanh nghiệp luôn gắn liền với một mức độ cao trong doanh thu, lợi nhuận, sự thỏa mãn của nhân viên và hiệu năng của tổ chức. Ở Việt Nam, văn hóa tổ chức, văn hóa doanh nghiệp vẫn là một khái niệm mới. Tuy chưa có những công trình nghiên cứu sâu rộng nhưng thuật ngữ văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công ty đã được dùng khá nhiều.