Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện xây dựng huyện nông thôn mới ở Việt Nam. Chương 2: Phân tích công tác xây dựng nông thôn mới, huyện nông thôn mới tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Giải pháp xây dựng huyện nông thôn mới tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN XÂY DỰNG HUYỆN NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 1.
Các khái niệm cơ bản và ý nghĩa của xây dựng nông thôn mới, huyện nông thôn mới 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Nông thôn Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã". Ở Việt Nam, nông thôn bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4000 người, mật độ dân cư ít hơn 6000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt dưới 60% tức là tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đạt từ 40% trở lên. Hiện nay khái niệm Nông thôn trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Có quan điểm lấy trình độ, tiêu chí phát triển, CSHT đối sánh với thành thị. Có quan điểm căn cứ vào trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để so sánh giữa thành thị và nông thôn. Cũng có quan điểm cho rằng: nông thôn là vùng dân cư có hoạt động sản xuất và thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ mang tính chất tương đối.
Khái niệm nông thôn thay đổi theo thời gian và quan niệm mỗi quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, nhìn nhận theo góc độ quản lý có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư nàytham gia vào hoạt động kinh tế văn hóa - xã hội và môi trương trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.2 Phát triển nông thôn Năm 1975 Ngân hàng Thế giới ñã ñưa ra ñịnh nghĩa về phát triển nông thôn như sau: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các ñiều kiện sống về kinh tế - xã hội của một nhóm người cụ thể (người nghèo ở vùng nông thôn), nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn ñược hưởng lợi ích từ sự phát triển.” Có quan ñiểm lại cho rằng PTNT nhằm nâng cao vị thế về kinh tế - xã hội cho người dân ở nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương (nhân lực, vật lực và trí tuệ). 6 Ta thấy rằng khái niệm PTNT mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường.
Thông qua các chiến lược về KT-XH của Chính phủ trong điều kiện của nước ta, PTNT được hiểu: Là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác. Nông thôn mới Trước hết phải hiểu nông thôn mới không phải là thị trấn, thị tứ; thứ hai, không phải là nông thôn truyền thống. Nghĩa là xây dựng nông thôn mới không phải là xây dựng nông thôn trở thành đô thị vì nó sẽ làm mất những giá trị truyền thống của nông thôn và không giữ vững được bản sắc văn hoá riêng của nông thôn Việt Nam. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là động lực cơ bản trong xây dựng nông thôn mới trên cơ sở đẩy mạnh sự dịch chuyển về lao động nông thôn.
Khái niệm nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau, nhìn chung mô hình nông thôn mới được xây dựng ở cấp xã, thôn phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ, văn minh. Xây dựng nông thôn mới là quá trình làm đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ ñộng phát triển kinh tế góp phần thực hiện chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đồng thời làm thay đổi về cơ sở vật chất và đời sống văn hoá tinh thần của người dân, qua đó thu hẹp khoảng cách về đời sống giữa nông thôn và thành thị. Đảng, Nhà nước ta xác định đây là một quá trình lâu dài và liên tục cần sự tập trung lãnh chỉ đạo về đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này. Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN.
Xây dựng nông thôn mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011). Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ định hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam.
Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm. Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ; bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011).
Đảng ta đã hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo quan điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc từ Đại hội X đến nay. Vậy xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo ra một nông thôn có nền kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống văn hóa của người dân (Chính phủ, 2010). Xây dựng NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí. Xây dựng NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và 8 cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước.
Như vậy, có thể hiểu “Xây dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của người dân được nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”. Căn cứ vào nội dung tại Quyết định 1600/QĐ-TTg và Quyết định 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành thì: Xây dựng NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Ý nghĩa của xây dựng nông thôn mới, huyện nông thôn mới Theo Đỗ Mai Thành (2012), xây dựng NTM có ý nghĩa quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, con người, môi trường, cụ thể: 1. Về kinh tế Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập.
Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán. Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn.
Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương.