Chương 1: Các nguồn lực chủ yếu cho phát triển các DNNVV. - Chương 2: Tình hình tiếp cận nguồn lực trong thời gian qua của các DNNVV. - Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận những nguồn lực phát triển chủ yếu cho các DNNVV tại Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 CÁC NGUỒN LỰC CHỦ YẾU CHO PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ 1.1 Khái niệm và phân loại Có lẽ do số liệu thống kê mà mỗi khi nói đến DNNVV người ta thường nghĩ ngay đến DNTN.
DNNVV ở hầu hết các nước trên Thế giới đều tập trung ở khu vực tư nhân là chính, điều đó âu cũng là hợp với quy luật tự nhiên, các DNTN thường khởi sự kinh doanh của mình từ nhỏ tới lớn. Họ có thể cho ra đời rất nhiều, nhưng cũng có rất nhiều doanh nghiệp bị phá sản trên con đường phấn đấu để trở thành doanh nghiệp lớn. Tiêu chí để phân loại DNNVV cũng rất khác nhau. Theo số liệu thống kê của 22 quốc gia, nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả các quốc gia phát triển, đang phát triển hay đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế cho thấy, chỉ tiêu về lao động được sử dụng 21 lượt, chỉ tiêu về vốn và tài sản được sử dụng 7 lượt, chỉ tiêu về doanh thu được sử dụng 5 lượt.
Một loạt các quốc gia chỉ sử dụng mỗi một tiêu chí là số lượng lao động. Tuy rằng định lượng về số lượng lao động trong mỗi ngành của mỗi quốc gia là khác nhau nhưng nhìn chung là tỷ lệ thuận với trình độ phát triển. Nước có trình độ phát triển nhất là Mỹ, tiêu chí định lượng về lao động trong các DNNVV là dưới 500 lao động áp dụng cho tất cả các ngành. Dù phân loại hay không thì các quốc gia đều bao gồm các doanh nghiệp cực nhỏ, thuê hoặc không thuê lao động.
Riêng Trung Quốc không phân loại doanh nghiệp cực nhỏ nhưng doanh nghiệp nhỏ lại tính từ 50 đến 100 lao động. Hung-ga-ry thì lấy tiêu chí doanh nghiệp cực nhỏ có từ 1 đến 10 lao động. Ác-mê-nia thì lấy tiêu chí thấp hơn, doanh nghiệp dưới 5 lao động là doanh nghiệp cực nhỏ. 5 Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV, tại Điều 3 của Nghị định này đã định nghĩa về DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:” Bảng 1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Số lao động Tổng nguồn Tổng Số lao động Số lao động Khu vực vốn nguồn vốn I.Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 nghiệp và thủy xuống trở xuống đến 200 đến 100 tỷ đến 300 sản người đồng người II.Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 và xây dựng xuống trở xuống đến 200 đến 100 tỷ đến 300 người đồng người III.Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 mại và dịch vụ xuống trở xuống đến 50 đến 50 tỷ đến 100 người đồng người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Việc phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa và nhỏ chỉ mang tính chất tương đối và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đó là: 6 - Trình độ phát triển của mỗi quốc gia: các nước có trình độ phát triển càng cao thi các tiêu thức nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp sẽ càng cao. - Vùng lãnh thổ: trình độ phát triển ở các vùng trong một quốc gia cũng khác nhau nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau, một doanh nghiệp được coi là lớn ở vùng này nhưng lại nhỏ so với vùng khác. - Tính chất lịch sử: việc xác định quy mô một doanh nghiệp là lớn, vừa hay nhỏ còn phụ thuộc vào thời điểm mà chúng ta xem xét. Vì có thể một doanh nghiệp được coi là lớn trong quá khứ nhưng so với hiện tại thì nó lại là nhỏ.
- Tính chất ngành nghề: việc phân loại DNNVV cũng phụ thuộc vào ngành nghề mà chúng ta đang xem xét. Chẳng hạn như ngành dệt may sử dụng rất nhiều lao động nhưng ngành điện, hóa chất lại sử dụng nhiều vốn và ít lao động. Trong thực tế mỗi nhóm ngành lại có một tiêu chí phân loại khác nhau.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam với xuất phát điểm là một nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển và chịu nhiều mất mát từ chiến tranh do vậy mà các doanh nghiệp của Việt Nam tập trung chủ yếu là các DNNVV. Theo như báo cáo của Tổng Cục thống kê thì tính đến năm 2008 số lượng DNNVV chiếm đến 95% tổng số các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam trong tổng số khoảng 200.000 doanh nghiệp đã thành lập trên toàn quốc.
Các doanh nghiệp này đang đóng góp khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và 26% lực lượng lao động trong cả nước. Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế trong thời kì quá độ, và những nước kém phát triển, tỷ trọng DNNVV thường là một con số đáng kể. Với một nước có nền kinh tế phát triển, theo Small Business FAQ 12-2000 nước Mỹ có đến 7 99,7% các hãng kinh doanh có thuê nhân công là các doanh nghiệp nhỏ, tạo ra được 75% việc là mới, chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hóa. Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước có nền kinh tế khá tiêu biểu, theo điều tra của Tập đoàn tài chính công nghiệp Thái Lan, năm 2002, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 95% số doanh nghiệp công nghiệp, tuyển dụng từ 85%- 90% lực lượng lao động, đóng góp trên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và xuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu ở Thái Lan, là một cơ sở hạ tầng quan trọng cho các công ty lớn xuyên quốc gia trong và ngoài nước hoạt động tại Thái Lan.
Ngày nay, tầm quan trọng của DNNVV đã được quốc tế thừa nhận, hoạt động và sự phát triển của chúng đóng vai trò lớn trong sự phát triển nền kinh tế quốc gia, có thể kể đến một số vai trò cụ thể của DNNVV như: 1.1 DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động Là một nước nông nghiệp với năng suất thấp nên thu nhập của dân cư tương đối thấp, thu nhập của người dân nông thôn chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông. Việc phát triển các DNNVV ở thành thị và nông thôn là một trong những biện pháp góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư. Nhờ việc phát triển các DNNVV lao động ở nông thôn sẽ được thu hút và các doanh nghiệp góp phần tăng nhanh thu nhập cho các tầng lớp dân cư. Theo thống kê không đầy đủ hiện nay Việt Nam đang thu hút một nửa lực lượng lao động trong khu vực phi nông nghiệp, trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới, mức độ sử dụng lao động của các doanh nghiệp nhỏ tăng gấp 4-10 lần, thu hút nhiều lao động.
Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có số dân hơn 80 triệu, nguồn lao động vẫn tăng liên tục và sức ép dân số tạo ra hiện tượng di cư vào đô thị gây ra những khó khăn không nhỏ về xã hội, giải quyết việc làm là một nhu cầu bức bách.2 Tạo ra sự phong phú, đa dạng về chủng loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các DNNVV chiếm phần lớn trong hệ thống các doanh nghiệp trong cả nước nên các sản phẩn của nó làm ra cũng rất khác biệt và phong phú đa dang kể cả về mẫu mã và chủng loại đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của xã hội, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành và của nền kinh tế. Các DNNVV không có xu hướng cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn mà phát triển chủ yếu ở những thị trường mới. Trong khi các doanh nghiệp lớn tạo thế cạnh tranh cho mình bằng cách tận dụng lợi thế quy mô nhờ việc đáp ứng nhu cầu đa số trên thị trường thì các DNNVV bắt đầu kinh doanh từ những ý tưởng độc đáo về những sản phẩm đáp ứng thị hiếu của bộ phận khách hàng mà chưa được quan tâm trên thị trường. Do vậy mà DNNVV khiến cho hàng hóa trên thị trường phong phú, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn.
Các DNNVV ở Việt Nam hiện nay phát triển ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong bán lẻ và dịch vụ. Nếu tính theo doanh thu của các doanh nghiệp cả nước, tỷ trọng doanh thu của khu vực DNNVV theo quy mô lao động năm 2002-2007 là 81,5% đến 86,5%. Điều đó chứng tỏ các DNNVV đóng góp lớn vào gia tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế Bảng 2: Tỷ trọng doanh thu DNNVV trong nền kinh tế Chia theo quy mô lao động (đv: %) Doanh thu, Tỷ trọng (đơn vị: tỷ doanh thu, Dƣới 10 Từ 10-200 Từ 200-300 Năm đồng) (đơn vị: %) ngƣời ngƣời ngƣời 2002 364.730 83 4,4 72,4 6,2 Nguồn: Tổng cục thống kê 2008 9 1.3 DNNVV có vai trò trong việc tận dụng triệt để có hiệu quả các nguồn lực có sẵn trong xã hội DNNVV thường bắt đầu với nguồn vốn tự có hạn hẹp, hầu như là không có sự trợ giúp từ bên ngoài, do vậy việc phát triển DNNVV là cách huy động vốn trong dân khá hiệu quả. Ở Việt Nam vốn đầu tư trực tiếp từ khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng khá lớn, khoảng 27-28% trong cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội.