CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và một số lý thuyết liên quan về sự hài lòng đối với công việc của người lao động 1. Khái niệm về sự hài lòng đối với công việc Hoppock (1935) cho rằng sự hài lòng đối với công việc là bất kỳ sự kết hợp của hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trường tạo ra cho một người để họ trung thực nói rằng tôi rất hài lòng với công việc của mình. Trong khi đó, Vroom (1964) lại tập trung vào vai trò của các nhân viên tại nơi làm việc.
Vì vậy, ông định nghĩa sự hài lòng đối với công việc như là định hướng tình cảm của cá nhân về công việc mà họ đang nắm giữ hiện tại. Locke (1976) lại cho rằng sự hài lòng đối với công việc là một trạng thái cảm xúc vui vẻ, tích cực được tạo ra từ kết quả làm việc hay trải nghiệm trong công việc. Theo các định nghĩa về sự hài lòng đối với công việc của một số nhà nghiên cứu trên, chúng mang tính trừu tượng và rất khó lượng hóa. Nó thể hiện cảm xúc, thái độ của người lao động đối với công việc của họ đang nắm giữ.
Điều này cho thấy, trong những khoảng không gian và thời gian khác nhau, sự hài lòng đối với công việc sẽ rất khác nhau tùy theo cảm nhận của người lao động. Theo Trần Kim Dung (2005) sự hài lòng đối với công việc của người lao động được định nghĩa và đo lường theo hai khía cạnh đó là: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần từ công việc. Sự hài lòng nói chung đối với công việc thể hiện cảm xúc của người lao động lên tất cả các khía cạnh của công việc. Tuy nhiên, việc đo lường sự hài lòng đối với công việc theo các yếu tố thành phần của công việc sẽ giúp cho nhà lãnh đạo biết được những điểm mạnh, yếu và những điều được nhân viên đánh giá cao, thấp.
Từ đó, họ sẽ có những giải pháp nhằm nâng cao được sự hài lòng đối với công việc cho người lao động. Quan điểm theo nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) sẽ được vận dụng trong nghiên cứu này để đo lường sự hài lòng đối với công việc của công nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các lý thuyết liên quan đến sự hài lòng đối với công việc Thuyết nhu cầu của Maslow 1943 Maslow đã nêu ra các loại nhu cầu khác nhau của con người đó là: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng, tự thể hiện.
Ông đã sắp xếp 5 loại nhu cầu thành hình bậc thang từ thấp đến cao. Thuyết nhu cầu của Maslow 1943 có liên quan rất lớn khi nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của người lao động. Chẳng hạn về nhu cầu sinh lý và an toàn có liên quan đến yếu tố điều kiện làm việc trong doanh nghiệp. Người lao động sẽ không thể làm việc hết sức hết mình nếu họ không được đáp ứng nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe sau giờ làm việc.
Môi trường làm việc không an toàn sẽ làm cho họ cảm thấy lo lắng, mệt mỏi. Thuyết hai nhân tố của Herzberg 1959 Herzberg đã đề xuất mô hình hai nhân tố: nhân tố duy trì và nhân tố thúc đẩy. Nhân tố duy trì là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động. Các yếu tố này khi được đảm bảo thì nó có tác dụng ngăn ngừa sự không hài lòng đối với công việc chứ không tạo nên sự hài lòng cho họ.
Khi các yếu tố này được đáp ứng, đôi khi những người lao động lại coi đó là điều tất nhiên. Nhưng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và làm cho tinh thần làm việc cũng như năng suất lao động bị giảm sút. Nhân tố thúc đẩy là các nhân tố tạo nên sự hài lòng và cũng chính là các nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc. Khi thiếu vắng các yếu tố này, người lao động sẽ biểu lộ sự lười biếng và thiếu sự thích thú đối với công việc.
Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần. Thuyết hai nhân tố của Herzberg cũng có liên quan mật thiết với các nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của người lao động. Thuyết công bằng của Adam 1963 Adam cho rằng mọi cá nhân trong mọi tổ chức luôn muốn được đối xử công bằng. Sự công bằng đến từ hai góc độ bên trong lẫn bên ngoài.
Cả hai góc độ đều chứa đựng một sự quan trọng nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Sự công bằng bên trong tức là người lao động muốn được đánh giá chính xác và đầy đủ của cấp trên về những thành tích, nỗ lực của họ đóng góp. Sự công bằng từ bên ngoài được hiểu là người lao động mong muốn được đối xử công bằng với những người khác trong công ty. Thuyết công bằng của Adam có sự liên quan tới sự hài lòng đối với công việc của người lao động.
Người lao động không thể có được sự hài lòng đối với công việc nếu như họ không cảm thấy được đối xử công bằng tại nơi làm việc. Do đó, các yếu tố trong công việc như: thu nhập, điều kiện làm việc, phúc lợi, sự thăng tiến…, phải tạo được sự công bằng giữa các cá nhân trong công ty, từ đó mới tạo được sự hài lòng cho họ. Thuyết kỳ vọng của Vroom 1964 Vroom cho rằng, mỗi cá nhân trong tổ chức có xu hướng hành động theo một cách nhất định dựa vào những mong đợi về một kết quả hay sự hấp dẫn nào đó của kết quả, đó là những kỳ vọng trong tương lai. Thuyết kỳ vọng của Vroom cũng có sự liên quan rất lớn đến sự hài lòng đối với công việc của người lao động.
Yếu tố về lương, phúc lợi, sự thăng tiến., các yếu tố liên quan đến công việc đều có thể là một trong những yếu tố mà mỗi người lao động trong tổ chức kỳ vọng. Nếu phần thưởng mà doanh nghiệp mang lại cho họ khi họ nỗ lực hoàn thành tốt mục tiêu thật xứng đáng, công bằng thậm chí có thể trên cả sự mong đợi thì họ sẽ cảm thấy hài lòng. Thuyết ERG của Alderfer 1969 Clayton Alderfer của Đại học Yale đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết nhu cầu của Maslow. Ông cho rằng chỉ có 3 loại nhu cầu cơ bản của con người thay vì 5 loại nhu cầu như Maslow đó là nhu cầu tồn tại, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu phát triển.
Thuyết ERG của Alderfer cho rằng thường xuyên có nhiều hơn một nhu cầu có thể ảnh hưởng trong cùng một con người, tại một thời điểm nhất định. Nếu những nhu cầu ở mức cao chưa được đáp ứng đủ, mong muốn những nhu cầu ở mức dưới sẽ tăng cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Thuyết ERG của Alderfer cũng cho thấy sự liên quan chặt chẽ khi nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc. Các yếu tố về thu nhập, thăng tiến, các chính sách phúc lợi…, cũng đều thuộc các loại nhu cầu mà Alderfer đã đưa ra.
Ý nghĩa của sự hài lòng công việc đối với tổ chức Việc nghiên cứu sự hài lòng đối với công việc của người lao động giúp cho nhà lãnh đạo công ty nắm bắt được nhu cầu và mong muốn thực sự của họ. Người lao động có thể nghỉ việc khi họ cảm thấy bất mãn ở một vấn đề nào đó xuất phát từ tổ chức hoặc từ chính nơi làm việc. Vì vậy, nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc giúp cho lãnh đạo tổ chức có thể cải thiện, sửa đổi những điều không phù hợp nhằm tăng hiệu quả làm việc, tăng mức độ gắn bó của người lao động đối với tổ chức. Bên cạnh đó, việc tổ chức các cuộc nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc còn là cơ hội để người lao động có thể chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình làm việc cũng như những tâm tư nguyện vọng của bản thân.
Những yêu cầu, đòi hỏi và cảm nhận về công việc trong mỗi thời kỳ là khác nhau. Như vậy, việc tìm hiểu sự hài lòng đối với công việc là hết sức cần thiết và việc này nên được tiến hành lặp lại trong một khoảng thời gian nhất định song hành với quá trình phát triển của doanh nghiệp. Một số nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của người lao động Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của người lao động. Tuy nhiên, mỗi ngành nghề khác nhau đều có những sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng.
Đối với công nhân, họ có một số đặc điểm rất khác biệt so với những đối tượng như: nhân viên văn phòng, giảng viên hay các đối tượng khác. Sadrul Huda và các đồng sự (2011) đã nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc trong ngành công nghiệp may tại Bangladesh. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc trong mô hình ban đầu bao gồm: mức lương hiện tại, môi trường làm việc, chế độ chăm sóc sức khỏe, vật dụng bảo hộ lao động, lợi ích khi làm thêm giờ, chính sách nghỉ việc, thăng tiến và thái độ của người chủ doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sadrul Huda và các đồng sự đã phỏng vấn 200 công nhân may mặc tại thành phố Dhaka.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố làm cho họ hài lòng đối với công việc hiện tại đó là: môi trường làm việc, chế độ chăm sóc sức khỏe, lợi ích khi làm thêm giờ. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Lai Chai Hong và các đồng sự (2013). Nghiên cứu đã sử dụng mô hình gồm các yếu tố như: lương, môi trường làm việc, sự công bằng và sự thăng tiến để đo lường sự hài lòng đối với công việc. Đối tượng của cuộc nghiên cứu này là người lao động làm việc trong các khu vực nhà máy tại Seremban ở Malaysia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc đó là: lương, môi trường làm việc và sự thăng tiến. Ngoài ra nghiên cứu còn chứng minh được, không có mối liên quan giữa mức độ hài lòng công việc dựa trên những yếu tố nhân khẩu học.