CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO CÔNG LẬP 1. Những khái niệmcơ bản. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính - “Cơ chế tài chính”: Là phương thức tồn tại và hoạt động của tổng thể các hoạt động tài chính và sự tương tác giữa chúng trong quá trình hoạt động ở một tổ chức, đơn vị, lĩnh vực kinh tế- xã hội nào đó hoặc của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - “Cơ chế quản lý tài chính”: Là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp tác động lên các hoạt động tài chính phát sinh và phát triển trong quá trình hoạt động ở một tổ chức, đơn vị, lĩnh vực kinh tế- xã hội hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo cho hoạt động tài chính vận động và phát triển đạt được những mục tiêu đã định.
Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính là nhằm tổ chức định hướng, điều chỉnh cơ chế tồn tại, vận động và phát triển của hoạt động tài chính nhằm phù hợp với các quy luật khách quan và thực tiễn khách quan của môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội để đạt được mục tiêu quản lý đã định. Những bất cập của cơ chế tài chính hiện tại luôn đặt ra yêu cầu phải không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính là hoàn thiện các hình thức, phương pháp, biện pháp tác động có tính chủ quan của con người đến các hoạt động tài chính nhằm điều chỉnh cơ chế tồn tại, vận động và phát triển của các hoạt động tài chính để đạt được mục tiêu đã định. - Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm: + Tự chủ là các chủ thể có quyền “tự quyết” thực sự, được quyền hành động trong khuôn khổ pháp luật, tăng tính chủ động và năng động của chủ thể hành động.
Trên cơ sở này, Nhà nước trao quyền tự chủ cho các cơ sở bằng các hình thức của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 lý thuyết trao quyền và uỷ quyền, có thể thêm hình thức tư nhân hóa nhưng không làm giảm quyền lực thực thụ của Nhà nước trong công tác quản lý. + Tự chịu trách nhiệm của một chủ thể là việc chủ thể đó tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định của cấp có thẩm quyền, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của mình; đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả của hoạt động đó. Xét trên góc độ quản lý thì tự chủ là mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm của một bên là cấp quản lý và một bên là cấp bị quản lý. Trên cơ sở pháp luật, cấp quản lý trao quyền tự chủ cho các chủ thể bị quản lý.
Khi được trao quyền tự chủ thực sự, được toàn quyền hành động trong khuôn khổ pháp luật, các chủ thể bị quản lý hành động sẽ tăng tính chủ động và năng động đối với những hoạt động của mình, đồng thời cũng chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cấp quản lý về những hoạt động đó. - Cơ chế tự chủ tài chính: Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập thực chất là cơ chế quản lý tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạt đó được đề cao. Các đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập mang những đặc điểm riêng, cụ thể: Quyền đi đôi với trách nhiệm: Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước giao quyền quyết định các vấn đề tài chính trong đơn vị, song phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước pháp luật, trước Nhà nước và trước yêu cầu của người thụ hưởng các dịch vụ do mình cung cấp. Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị.Quyền tự chủ tài chính chỉ có thể triển khai thực hiện khi đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính.
Như vậy giữa quyền tự chủ tài chính với quyền tự chủ các hoạt động khác trong đơn vị sự nghiệp công lập có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau. Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ có giới hạn. Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị đo Nhà nước thành lập và quản lý, do đó mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập, kể cả hoạt động tài chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các cơ quan quản lý cấp trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Sự giới hạn của quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị công lập là một yêu cầu tất yếu, nó xuất phát lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội, mà Nhà nước là người bảo hộ.
Nhà nước ban hành quy chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt động tài chính trong đơn vị. Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công lập trong tổ chức, sắp xếp, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động. Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước.2 Đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm: Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Những hoạt động này nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận) [11].
Phân loại: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Có nhiều cách để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ khác nhau như tiêu chí sở hữu, tiêu chí nguồn thu,. Việc phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm được dựa vào nguồn thu và mức tự đảm bảo kinh phí. - Căn cứ vào nguồn thu, bao gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động); + Đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được Ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); + Đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ). - Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, bao gồm: * Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%.
+ Đơn vị sự nghiệp công lập đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đặt hàng. * Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp công lập có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%. * Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. + Đơn vị sự nghiệp công lập không có nguồn thu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp công lập được tính như sau: Tổng số nguồn thu sự nghiệp Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động = -------------------------------------- x 100% thường xuyên của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên Trong đó: Tổng số nguồn thu sự nghiệp gồm: - Phần được để lại từ số thu phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước. - Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị. - Lãi chia từ hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ * Tổng số chi hoạt động thường xuyên: - Chi hoạt động thường xuyên theo theo chức năng nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản phải nộp theo lương, dịch vụ công cộng, chi phí chuyên môn,… - Chi các hoạt động dịch vụ liên quan đến các hoạt động kinh doanh dịch vụ của đơn vị. Đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập.
Đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập là đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập gắn liền với chức năng cung ứng dịch vụ giáo dục, đào tạo cho xã hội theo chỉ tiêu Nhà nước giao và được Nhà nước cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước. Hệ thống giáo dục quốc dân quy định: các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập ở nước ta bao gồm: - Giáo dục mầm non, gồm: nhà trẻ và mẫu giáo; - Giáo dục phổ thông, gồm: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; - Giáo dục nghề nghiệp gồm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 + Trung cấp chuyên nghiệp; + Dạy nghề.