Chương 1: Quảng bá thương hiệu của ngân hàng thương mại - những vấn đề mang tính lý luận Chương 2: Thực trạng quảng bá thương hiệu của BIDV. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quảng bá thương hiệu của BIDV. 3 CHƯƠNGI QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU CỦA NHTM - NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH LÝ LUẬN 1. BẢN CHẤT CỦA THƯƠNG HIỆU VÀ VẤN ĐỀ QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU NGÂN HÀNG 1.
Một số quan niệm về thương hiệu và thương hiệu ngân hàng Giống như các khái niệm trong khoa học xã hội khác, khái niệm thương hiệu luôn được thay đổi nội hàm cho phù hợp với tiến độ và khám phá mới trong sinh hoạt và đời sống. Bản thân thương hiệu cũng đã có nhiều nội dung khác nhau theo thời gian, theo từng góc nhìn và theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế xã hội. Thương hiệu theo nghĩa đơn giản nhất đó là sự phân biệt giữa các sản phẩm và dịch vụ khác nhau được cung ứng trên thị trường. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu.
Sau đây là một số định nghĩa về thương hiệu thường được sử dụng trong các tài liệu lý thuyết về thương hiệu: • Quan điểm thứ nhất: Theo từ điển tiếng Việt Wikiepedia thì: Thương hiệu: là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức. • Quan điểm thứ hai: theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Intellectual Property Oraganization): Thương hiệu - là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. [1W] • Quan điểm thứ ba: Theo quan điểm truyền thống của Hiệp hội marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu 4 dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh ” [2W] Như vậy, theo quan điểm này, thương hiệu theo được hiểu như chính là sản phẩm, và không khác gì brand-nhãn hiệu phân biệt sản phẩm đó.
Nhãn hiệu này được sự bảo hộ của nhà nước nếu có đăng ký. • Quan điểm thứ tư: Theo quan điểm hiện đại về thương hiệu thì thương hiệu không chỉ gói gọn từ này trong một cái tên. Charles Brymer, CEO của Interbrand Scheter cho rằng thương hiệu (brand) đại diện cho một sự cuốn hút, tổng thể giá trị hay những thuộc tính nhất định [3W] • Quan điểm thứ năm: có thể định nghĩa thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Theo đó, sản phẩm chỉ là một phần của thương hiệu, và marketing hỗn hợp (marketing mix) sẽ xoay quanh thương hiệu đó.
Tổng hợp, đối chiếu và so sánh các nội dung nêu trên, tác giả luận văn cho rằng, thương hiệu được hiểu như sau: Tất cả những danh tính, hình dạng, biểu tượng hay bất kỳ chỉ dấu nào dùng để xác nhận nguồn gốc của sản phẩm (dịch vụ) do doanh nghiệp này sản xuất (cung ứng) của các doanh nghiệp khác nhằm thể hiện nội dung kinh doanh của nhà sản xuất hay nhà cung ứng cho khách hàng theo những mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được gọi chung là thương hiệu. Xuất phát từ quan niệm và minh chứng nêu trên, có thể thấy, thương hiệu không chỉ đơn thuần là cái tên, thương hiệu gắn liền với nơi sản xuất và bản thân thương hiệu có những giá trị nhất định cho nên nó được bảo vệ không những trong phạm vi quốc gia mà cả trong phạm vi quốc tế nữa Thương hiệu ngân hàng cũng có thể hiểu là: Tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế. hoặc tập hợp của các yếu tố nhằm xác 5 định hoặc phân biệt sản phẩm và dịch vụ của một ngân hàng này so với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng khác. Đó cũng là biểu tượng, danh tiếng, tính đặc thù riêng về sản phẩm và dịch vụ của một NH trên thị trường trong và ngoài nước.
Thương hiệu tạo nên sự khác biệt giữa các NH và là một bộ phận giá trị của NH, được tính toán xác định để đưa vào giá trị doanh nghiệp thông qua mức độ sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng tính trên tổng giá trị thị trường tài chính, tín dụng. Qua nghiên cứu nội dung một số quan điểm về thương hiệu thì nội dung Thương hiệu trong NH có thể hiểu là một tập hợp thể hiện cơ bản các dịch vụ và tiện ích của NH đó theo những quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế điều hành riêng của từng đơn vị nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng giao dịch nhưng vẫn tuân thủ độ an toàn trong kinh doanh, trên cơ sở ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ trong từng thời kỳ nhất định. Đây là quá trình tích luỹ lâu dài, là biểu hiện của lâu năm, là sức sống trong lòng công chúng. Quy định pháp lý về thương hiệu Trên thế giới với những quy định rạch ròi về quyền sở hữu trí tuệ và các công ước quốc tế khác về sản phẩm và giá trị sản phẩm thì giá trị thương hiệu tương đối rõ ràng bằng các hiệp định đa phương mang tính chất quốc tế cũng như phạm vi khu vực.
Song với một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì việc xác định giá trị thương hiệu chưa có hướng dẫn theo chuẩn mực mà chỉ do hai bên mua, bán, chuyển nhượng tự thỏa thuận. Thương hiệu trong hệ thống pháp lý nước ngoài: Sở hữu công nghiệp là vấn đề rất được coi trọng trong kinh doanh các nước trên thế giới. Có lẽ vì vậy mà có hẳn một định chế phi chính phủ để tập hợp về bảo vệ quyền lợi cho các bên có liên quan, đó là Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Cơ quan này có tới 182 thành viên (năm 2005) và điều hành hoạt động có liên quan dựa 6 trên một số thỏa thuận mang tính chất pháp lý được nhiều nước trên thế giới công nhận và chấp hành như: Công ước Berne về bảo vệ quyền của các tác phẩm văn học và nghệ thuật, thỏa ước Madrid về chống giả mạo và gian lận trong chỉ dấu về xuất xứ hàng hóa.
Về nguyên tắc, Sở hữu trí tuệ là sở hữu công nghệ, kiểu dáng, trí tuệ - thực chất hàm lượng trí tuệ là vô cùng lớn cho nên từ sở hữu trí tuệ mang ý nghĩa rộng hơn so với sử hữu công nghiệp và ngày nay, khi đề cập đến những gì liên quan đến trí thức thì người ta hay gọi là trí tuệ. Tuy dựa vào những văn bản mang tính công pháp quốc tế để điều hành hoạt động nhưng do số lượng các quốc gia tham gia trong từng thỏa thuận quốc tế có khác nhau nên còn có những tổ chức khác quản ký nhãn hiệu hàng hóa hay thương hiệu. Công ước PARIS (The Paris Convention): Là một cơ chế quốc tế lâu đời nhất có liên quan đến quyền bảo hộ và sở hữu trí tuệ. Định chế này được thành lập năm 1883, nội dung hiệp định đã được điều chỉnh một số lần trong lịch sử phát triển.
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động là các thành viên ký và thừa nhận nội dung công ước Paris đều là thành viên của WPIO, có đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ để được bảo hộ quyền sáng chế và sở hữu trí tuệ, không chỉ trong các quốc gia thành viên mà còn ở những quốc gia tham gia trong công ước Paris. Nội dung công ước Paris, mức độ bảo hộ thương hiệu của các nước không đồng đều. Ngoài việc chuyển nhượng thương hiệu, công ước vẫn chưa đề cập đến vấn đề nội dung quyền thương hiệu Hiệp ước luật về nhãn hiệu đăng ký (Trademark Law Treaty - TLT): Được thành lập năm 1994 và mở ra cho các nước thành viên của WIPO, đến năm 1999 thì mở rộng để các quốc gia khác có điều kiện và tự nguyện gia nhập thì cũng được quyền tham gia. Mục đích của TLT là làm cho quá trình đăng ký pháp lý của nhãn hiệu được dễ dàng và thuận lợi không chỉ trong các 7 quốc gia thành viên mà còn trong phạm vi quốc tế hay khu vực.
Quy trình đăng ký theo hiệp định này gồm 3 giai đoạn: Giai đoạnl: đăng ký sử dụng nhãn hiệu: Yêu cầu người chủ sở hữu phải thông tin một cách chi tiết về nội dung quy định của nhãn hiệu hàng hóa hay dịch vụ xin đăng ký để bảo hộ về mặt luật phát của các nước có tham gia trong hiệp định. Giai đoạn 2: Những thay đổi về tên, địa chỉ, chủ sở hữu liên quan đến nhãn hiệu đó đăng ký thì được công nhận để điều chỉnh. Giai đoạn 3: Đổi mới nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký thì cứ theo mốc thời gian 10 năm/lần. Có thể thấy rằng, với giá trị thương hiệu vốn có và thông qua vận hành của thị trường chứng khoán giao dịch cả ngày lẫn đêm vì chênh lệch múi giờ trên phạm vi toàn thế giới thì vấn đề thương hiệu không chỉ được bảo vệ trong nước mà cả trên phạm vi các nước xuất khẩu hàng hóa nữa.
Như vậy, về luật pháp quốc tế, vấn đề nhãn hiệu hàng hóa đăng ký hay nói khác đi, quyền của thương hiệu đã được coi trọng và chú ý từ trước đây hàng trăm năm chứ không phải hiện tại. Bảo vệ thương hiệu xét cho cùng cũng là bảo hệ đạo đức trong kinh doanh và là môi trường bình đẳng cho tất cả mọi người trong quá trình sản xuất, kinh doanh và cũng chính là bảo vệ cho người tiêu dùng - một đối tượng chính yếu quan trọng của thương hiệu. Thương hiệu trong hệ thống pháp lý hiện hành của Việt Nam, từ ngữ thương hiệu không được dùng trong bộ luật thương mại mà thay vào đó chỉ sử dụng tên thương mại. Tên thương mại cùng các bộ phận có liên quan đến tài sản của doanh nghiệp mà từ trong luật gọi là sản nghiệp thương mại.
Do đó, việc xác định giá trị thương hiệu không có hướng dẫn mà chỉ do hai bên mua bán, chuyển nhượng tự thỏa thuận.