phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc về đất đai. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đất đai tại phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai tại phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc về đất đai 1. Lý luận chung về đất đai 1. Khái niệm đất đai Đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với thời gian thì con ngƣời xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con ngƣời, tức cũng là sản phẩm của xã hội. Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và các sinh vật khác trên trái đất.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về đất đai, cụ thể là: - Theo Luật Đất đai năm 1993 của Việt Nam: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xƣơng máu mới tạo lập, bảo vệ đƣợc vốn đất đai nhƣ ngày nay”. - Theo Luật Đất đai năm 2003 của Việt Nam: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. - Theo Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam: Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam không đƣa ra khái niệm đất đai mà thay vào đó là khái niệm “thửa đất”, cụ thể là: “Thửa đất là phần diện tích đất đƣợc giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc đƣợc mô tả trên hồ sơ”.
Đặc điểm của đất đai - Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được. Tính cố định vị trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trƣờng nơi có đất. Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất, do đó, đất đai là có hạn. Tuy nhiên, giá trị của đất đai ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau.
Đất đai ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nông thôn và vùng sâu, vùng xa; đất đai ở những 7 nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn. Chính vì vậy, khi vị trí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn. Vị trí đất đai hoặc điều kiện đất đai không chỉ tác động đến việc sản xuất, kinh doanh tạo nên lợi thế thƣơng mại cho một công ty, một doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với một quốc gia. - Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian.
Đất đai có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý, đối với đất đai sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì tính đa dạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi của các loại cây, con quyết định và đất tốt hay xấu xét trong từng loại đất để làm gì, đất tốt cho mục đích này nhƣng lại không tốt cho mục đích khác. - Đất đai một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người. Con ngƣời tác động vào đất đai nhằm thu đƣợc sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống. Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm thay đổi tính chất của đất đai có thể chuyển đất hoang thành đất sử dụng đƣợc hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất.
Tất cả những tác động đó của con ngƣời biến đất đai từ một sản phẩm của tự nhiên thành sản phẩm của lao động. Trong điều kiện sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, đầu tƣ vào ruộng đất có liên quan đến các quan hệ kinh tế – xã hội. Trong xã hội có giai cấp, các quan hệ kinh tế – xã hội phát triển ngày càng làm các mâu thuẫn trong xã hội phát sinh, đó là mối quan hệ giữa chủ đất và nhà tƣ bản đi thuê đất, giữa nhà tƣ bản với công nhân. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền sử dụng đất đƣợc trao đổi, mua bán, chuyển nhƣợng và hình thành một thị trƣờng đất đai.
Lúc này, đất đai đƣợc coi nhƣ là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt. Thị trƣờng đất đai có liên quan đến nhiều thị trƣờng khác và những biến động của thị trƣờng này có ảnh hƣởng đến nền kinh tế và đời sống dân cƣ. Vai trò của đất đai - Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trƣớc lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời.
Nếu không có đất đai 8 thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng nhƣ không thể có sự tồn tại của loài ngƣời. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con ngƣời, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con ngƣời trên trái đất. - Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và các công trình khác.
Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng nhƣ gạch ngói, xi, măng, gốm sứ. - Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tƣ cố định, là thƣớc đo sự giầu có của một quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, nhƣ là sự chuyển nhƣợng của cải qua các thế hệ và nhƣ là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng. - Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm đƣợc công cụ lao động, nguyên liệu lao dộng và nơi sinh tồn của xã hội loài ngƣời.
Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau: + Trong các ngành phi nông nghiệp: đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản phẩm đƣợc tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lƣợng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. + Trong các ngành nông lâm nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ sở không gian, đồng thời là đối tƣợng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất nhƣ cày, bừa, xới xáo) và công cụ hay phƣơng tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi). Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu, quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài ngƣời, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần, các thành tựu kỹ thuật vật chất, văn hoá khoa học đều đƣợc xây dựng trên nền tảng cơ bản, đó là sử dụng đất. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con ngƣời còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Thời kì cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, công 9 năng của đất đai từng bƣớc đƣợc mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn. Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con ngƣời tƣ liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng nhƣ cung cấp điều kiện cần thiết về hƣởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại.
Hiện nay, khi kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa ngƣời và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con ngƣời trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại môi trƣờng đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng và quản lý đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu. Quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai - Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nƣớc là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bản chất của quản lý nhà nƣớc là quyền lực nhà nƣớc.
Quyền lực nhà nƣớc đƣợc ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và đƣợc thực hiện bởi bộ máy nhà nƣớc với cơ sở vật chất – tài chính to lớn, bằng phƣơng pháp thuyết phục và cƣỡng chế (Đỗ Thị Hải Hà, 2010). - Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nƣớc về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nƣớc đối với đất đai.