phần mở đầu , kết luâṇ, tài liệu tham khảo và phụ lục luâṇ văn đƣơc̣ kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sởlýluâṇ vàthƣc̣ tiêñ của quan hê ̣thƣơng maịViêṭ Nam – Brazil Chƣơng 2: Thƣc̣ trang̣ quan hê ̣thƣơng maịgiƣ̃a ViêṭNam và Brazil Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy quan hệ thƣơng mại giƣ̃a ViêṭNam - Brazil 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – BRAZIL 1. Một số vấn đề lý luận chung về thƣơng mại quốc tế Thƣơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nƣớc thông qua mua bán trên cở sở nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ quốc tế làm môi giới và đảm bảo lợi ích của các bên. Hoạt động thƣơng mại quốc tế diễn ra trên cơ sở những lợi thế khác biệt giữa các quốc gia. Điều này đã đƣợc nhiều nhà kinh tế nổi tiếng chứng minh qua các lý thuyết: lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, lý thuyết H-O [1-2]… 1.
Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Trong tác phẩm nổi tiếng “của cải của các dân tộc” (1776) Adam Smith đã đƣa ra ý tƣởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thƣơng mại quốc tế. Theo lý thuyết này, khi quốc gia A có hiệu quả hơn (gọi là có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất hàng hoá X nhƣng lại ít hiệu quả hơn (gọi là có bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia B trong việc sản xuất hàng hoá Y. Khi đó nếu mỗi nƣớc chuyên môn hoá vào sản xuất mặt hàng mình có lợi thế tuyệt đối và xuất khẩu mặt hàng này sang nƣớc kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối thì sản lƣợng của cả hai mặt hàng đều tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn. Theo lý thuyết này Adam Smith khẳng định rằng thƣơng mại tự do có lợi cho tất cả các quốc gia và khuyên các Chính phủ nên đi theo chủ nghĩa tự do kinh tế.
Thƣơng mại tự do sẽ làm cho các nguồn lực thế giới đƣợc sử dụng hiệu quả nhất và tối đa hoá lợi ích của thế giới. Minh hoạ lợi thế tuyệt đối: 8 Giả sử trên thế giới chỉ có 2 quốc gia (Việt Nam và Nhật Bản) và 2 mặt hàng lƣơng thực - vải, lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trƣờng. Trong điều kiện tự cung tự cấp, mỗi nƣớc tự sản xuất để tiêu dùng trong nƣớc. Năng suất lao động ở mỗi nƣớc nhƣ sau: Bảng 1.1: Lợi thế tuyệt đối của Nhật Bản và Việt Nam về lƣơng thực và vải theo chi phí lao động.
Nhật Bản Việt Nam Lƣơng thực (kg/ giờ) 2 6 Vải (m/giờ) 4 3 Từ bảng trên ta thấy năng suất lao động trong sản xuất lƣơng thực của Việt Nam gấp 3 lần của Nhật Bản nên Việt nam có lợi thế tuyệt đối so với Nhật Bản trong sản xuất lƣơng thực. Năng suất lao động trong trong sản xuất vải của Nhật Bản gấp 4/3 lần của Việt Nam nên Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất vải. Nếu không có thƣơng mại tỷ lệ trao đổi nội bộ của Việt Nam là 6kg lƣơng thực 3m vải, tỷ lệ trao đổi của Nhật Bản là 2kg lƣơng thực 4m vải. Khi có thƣơng mại, Việt Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất lƣơng thực, Nhật Bản sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải.
Giả định tỷ lệ trao đổi là 1kg lƣơng thực đổi 1m vải. Việt Nam sẽ đem 6kg lƣơng thực đổi lấy 6m vải của Nhật Bản, khi đó Việt Nam sẽ đƣợc lợi 3m vải tƣơng đƣơng với tiết kiệm đƣợc 1 giờ lao động. Khi không có thƣơng mại, Nhật Bản muốn có 6kg lƣơng thực phải mất 3 giờ lao động, nếu Nhật Bản chuyên môn hoá vào sản xuất vải trong 3 giờ họ sẽ sản xuất đƣợc 12m vải. Đem 6m vải đổi lấy 6kg lƣơng thực thì Nhật Bản đƣợc lợi 6m vải hay tiết kiệm đƣợc 3/2 giờ lao động.
9 Nhƣ vậy nhờ chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu hàng hoá còn lại mà các nguồn lực quốc gia đƣợc sử dụng có hiệu quả hơn, sản lƣợng của các hàng hoá tăng. Đánh giá: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đã khắc phục đƣợc những hạn chế của lý thuyết trọng thƣơng đó là khẳng định cơ sở tạo ra giá trị là sản xuất chứ không phải lƣu thông, nó có tính thuyết phục trong việc mở rộng thƣơng mại và giảm sự kiểm soát thƣơng mại. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối cũng chứng minh thƣơng mại đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia, rằng thƣơng mại không phải là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không nhƣ những nhà theo chủ nghĩa trọng thƣơng tin tƣởng, về thực tế thƣơng mại có lợi ích qua lại và là một trò chơi có tổng lợi ích là một số dƣơng. Lý thuyết này cũng có một số điểm bất ổn: không giải thích đƣợc thƣơng mại quốc tế sẽ xảy ra nhƣ thế nào đối với những nƣớc không có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng.
Lý thuyết này coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, coi lao động là đồng nhất và sử dụng với tỷ lệ nhƣ nhau trong tất cả các loại hàng hoá. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Năm 1817 Ricardo cho ra đời tác phẩm “nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá” trong đó ông đề cập đến quy luật lợi thế so sánh. Nhằm đơn giản hoá việc phân tích mô hình mậu dịch quốc tế ông đã đƣa ra một số giải thiết: - Phân tích mô hình thƣơng mại có 2 quốc gia, 2 loại sản phẩm, có một yếu tố sản xuất là lao động và giá trị hàng hoá tính theo lao động. - Thƣơng mại quốc tế hoàn toàn tự do.
- Các yếu tố sản xuất di chuyển tự do trong phạm vi một quốc gia nhƣng không đƣợc di chuyển ra bên ngoài. - Chi phí sản xuất là cố định, chi phí vận chuyển bằng không 10 - Công nghệ không thay đổi Theo nguyên tắc của lợi thế so sánh nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia khác trong sản xuất cả 2 loại hàng hoá thì thƣơng mại vẫn xảy ra và đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia. Khi đó quốc gia đó nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu hàng hoá có bất lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn (mặt hàng quốc gia đó có lợi thế so sánh) và nhập khẩu hàng hoá có bất lợi thế tuyệt đối lớn hơn (mặt hàng quốc gia đó không có lợi thế so sánh) Minh hoạ lợi thế so sánh: Quay trở lại mô hình thƣơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản ở phần trƣớc tuy nhiên năng suất lao động ở mỗi nƣớc thay đổi nhƣ sau: Bảng 1.2: Lợi thế so sánh của Nhật Bản và Việt Nam về lƣơng thực và vải theo chi phí lao động Nhật Bản Việt Nam Lƣơng thực(kg/giờ) 1 6 Vải (m/giờ) 2 3 Trong 1 giờ lao động Việt Nam sản xuất đƣợc 6kg lƣơng thực nhiều hơn 5kg so với Nhật Bản và trong 1 giờ lao động Việt Nam sản xuất đƣợc 3m vải nhiều hơn 1m so với Nhật Bản do đó Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lƣơng thực và vải. Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Nam trong sản xuất lƣơng thực gấp 6 lần Nhật Bản và năng suất lao động của Việt Nam trong sản xuất vải gấp 3/2 lần Nhật Bản nên Việt Nam có lợi thế tƣơng đối trong sản xuất lƣơng thực (do 6 > 3/2).
Nhật Bản có năng suất lao động gấp 1/6 lần Việt Nam trong sản xuất lƣơng thực và gấp 2/3 lần Việt Nam trong sản xuất vải nên Nhật Bản có lợi thế tƣơng đối về sản xuất vải (do 2/3 > 1/6). Theo quy luật của lợi thế so sánh, cả 2 quốc gia sẽ có lợi thế từ thƣơng mại 11 nếu Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất lƣơng thực và xuất khẩu một phần để đổi lấy vải đƣợc sản xuất từ Nhật Bản (Nhật Bản sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu vải). Khi có thƣơng mại Việt Nam sẽ bàng quan với việc tham gia thƣơng mại nếu 6kg lƣơng thực đổi đƣợc 3m vải và không tham gia thƣơng mại nếu 6kg lƣơng thực đổi đƣợc ít hơn 3m vải, Việt Nam chỉ có lợi nếu 6kg lƣơng thực đổi đƣợc nhiều hơn 3m vải. Tƣơng tự Nhật Bản sẽ bàng quan với việc tham gia thƣơng mại quốc tế nếu nó đổi 2m vải đƣợc 1kg lƣơng thực và không tham gia thƣơng mại nếu 2m vải đổi đƣợc ít hơn 1kg lƣơng thực, Nhật bản chỉ có lợi nếu 2m vải đổi đƣợc nhiều hơn 1kg lƣơng thực hay 12m vải đổi đƣợc nhiều hơn 6kg lƣơng thực.
Khung tỷ lệ trao đổi mà cả 2 bên cùng có lợi là: 3m vải < 6kg lƣơng thực < 12m vải. Giả sử tỷ lệ trao đổi khi có thƣơng mại là 6kg lƣơng thực đổi đƣợc 6m vải, Việt Nam sẽ đem 6kg lƣơng thực đổi lấy 6m vải từ Nhật Bản, Việt Nam đƣợc lợi 3m vải tiết kiệm đƣợc 1 giờ lao động (do khi không có thƣơng mại tại Việt Nam 6kg lƣơng thực đổi đƣợc 3m vải). Đối với Nhật Bản khi không có thƣơng mại để có đƣợc 6kg lƣơng thực cần 6 giờ lao động. Khi Nhật Bản chuyên môn hoá sản xuất vải trong 6 giờ họ sản xuất đƣợc 12m vải, đem 6m vải đi trao đổi lấy 6kg lƣơng thực thì Nhật Bản đƣợc lợi 6m vải hay tiết kiệm đƣợc 3 giờ lao động.
Nhƣ vậy nhờ vào việc chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mình có lợi thế tƣơng đối cả 2 nƣớc đều thu đƣợc lợi ích từ thƣơng mại. Đánh giá lý thuyết lợi thế so sánh: Lý thuyết lợi thế so sánh đặt cơ sở nền tảng cho thƣơng mại quốc tế, vạch ra cơ sở của thƣơng mại quốc tế là sự khác biệt về lợi thế tƣơng đối trong sản xuất một loại mặt hàng nào đó. Lý thuyết đã khắc phục đƣợc điểm hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: giải thích đƣợc rằng 12 tất cả các quốc gia đều có lợi khi tham gia thƣơng mại kể cả trong trƣờng hợp nƣớc đó không có lợi thế tuyệt đối về một số mặt hàng nào đó. Lý thuyết cũng chỉ ra đƣợc sự phân công lao động quốc tế.