Chương 1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn 1. Các mô hình lý thuyết về NSLĐNN: 1. David Ricardo (1772 – 1823): Giới hạn của đất làm cho NSLĐNN thấp. Do đất nông nghiệp có giới hạn trong khi dân số tăng, tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp xuất hiện.
Dư thừa lao động cũng đồng nghĩa với thất nghiệp, bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình trong nông thôn. Do đó hiệu suất sử dụng lao động thấp và ảnh hưởng đến NSLĐNN. Và điều này ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Như vậy, nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên đất nông nghiệp theo hướng tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp thông qua phương thức thâm canh, giải quyết tình trạng dư thừa lao động nông thôn, kiểm soát tăng trưởng dân số là những vấn đề then chốt mà các nước đang phát triển phải đương đầu nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
Lewis (1955): Do đất đai ngày càng khan hiếm, trong khi lao động ngày càng tăng. Hệ quả là có tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp. Dư thừa đến mức năng suất hoặc sản lượng biên trong nông nghiệp bằng zero. Do đó, dịch chuyển lao động dư thừa sang khu vực phi nông nghiệp, tổng sản lượng nông nghiệp vẫn không đổi.
Tuy nhiên khi dịch chuyển được số lao động này sang khu vực khác, sản lượng khu vực đó sẽ tăng và như vậy tổng sản lượng quốc gia tăng và NSLĐNN tăng. Oshima (1955): Oshima tranh luận quá trình phát triển và tăng trưởng được tiến hành qua 3 giai đoạn: - Trong giai đoạn 1: Đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo chiều rộng nhằm đa dạng hóa sản xuất, thu hút lao động tại khu vực nông nghiệp mà không cần dịch 14 15 chuyển qua khu vực công nghiệp. Như vậy, nâng cao tỉ suất sử dụng LĐNN là yếu tố quyết định trong thực hiện tăng trưởng nông nghiệp. - Giai đoạn 2: Đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Tiếp tục đa dạng hóa SXNN, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn (trang trại) nhằm mở rộng quy mô sản lượng. Phát triển công nghệ chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động. Như vậy, phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa việc làm ở nông thôn là cốt lõi của sử dụng nguồn LĐNN về mặt số lượng. Yếu tố số lượng lao động ảnh hưởng quan trọng tới tăng trưởng nông nghiệp.
- Giai đoạn 3: Phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao động. Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của giai đoạn 2 làm cho hiện tượng thiếu lao động ngày càng phổ biến. Do đó: - Trong nông nghiệp đẩy nhanh cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ sinh học để tăng nhanh NSLĐ. Nông nghiệp có thể giảm số lao động chuyển sang khu vực công nghiệp mà không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp.
- Công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và chuyển dịch hướng về xuất khẩu. Ngành công nghiệp thâm dụng lao động thu hẹp và ngành công nghiệp thâm dụng vốn sẽ mở rộng để nâng sức cạnh tranh và giảm nhu cầu lao động. Đây là giai đoạn chuyển dịch từ tăng trưởng bề rộng sang chiều sâu, tăng trưởng trên cơ sở tăng NSLĐ. Yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ bao gồm: công nghệ sinh học, cơ giới và vốn.
Mô hình Todaro (1990): Theo Todaro, phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn, tuần tự từ thấp đến cao: - Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự cung tự cấp. Phần lớn sản phẩm sản xuất ra được tiêu dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp. Sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là từ các loại cây lương thực và một số con 15 16 vật nuôi truyền thống. Sản lượng nông nghiệp tăng chủ yếu là do mở rộng số lượng lao động, diện tích đất và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
- Giai đoạn 2: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa. Cơ cấu cây trồng, con vật nuôi trên từng đơn vị diện tích đất nông nghiệp, trên từng hộ được phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng để thay thế cho chế độ canh tác độc canh trong sản xuất. Do đó, tính thời vụ của LĐNN được hạn chế đáng kể. Sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp và nâng cao tỉ suất sử dụng lao động nông thôn.
- Giai đoạn 3: Nông nghiệp hiện đại. Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nông nghiệp. Trong các trang trại được chuyên môn hóa, sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận thương mại là mục tiêu của người sản xuất. Yếu tố vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp.
NSLĐ trở thành chìa khóa của tăng trưởng và phát triển nông nghiệp.S, trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng nông nghiệp do nâng cao NSLĐNN và chính nó quyết định nâng cao thu nhập cho nông dân. NSLĐNN phụ thuộc vào 2 nhóm yếu tố là QMĐ và NSĐ. NSLĐNN (APLA) là sản lượng hoặc giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tính trên một LĐNN (tính theo giá cố định), công thức tính: APLA = YA/LA =YA/S * S/LA Trong đó: YA là tổng sản lượng hoặc giá trị tổng sản lượng nông nghiệp LA là số lượng LĐNN S là diện tích đất gieo trồng Từ công thức thấy được NSLĐNN phụ thuộc vào NSĐ (YA/S) và hệ số đất – lao động, tức QMĐ nông nghiệp (S/LA), do đó muốn tăng NSLĐNN cần phải tăng hoặc YA/S hoặc S/LA hoặc cả hai. Tác động của từng yếu tố NSĐ và yếu tố hệ số đất – lao động đối với sản lượng tùy thuộc vào quá trình phát triển của nông nghiệp; thông qua lý thuyết hàm SXNN tăng trưởng theo các giai đoạn phát triển của nhà kinh tế SS.
Park (1992) sẽ thấy được mối tương tác một cách rõ nét. Park SXNN phát triển qua ba giai đoạn như sau: + Giai đoạn sơ khai: Đây là thời kỳ công nghệ chưa phát triển, SXNN chủ yếu dựa vào yếu tố tự nhiên (N) như đất, nước, khí hậu, và lao động. NSĐ có xu hướng giảm dần do khai thác cạn kiệt độ phì nhiêu của đất và chịu sự chi phối của quy luật năng suất biên giảm dần của yếu tố lao động, do vậy để tăng sản lượng chủ yếu dựa vào việc mở rộng diện tích nghĩa là tăng S/LA. Mối quan hệ phụ thuộc của sản lượng và các yếu tố đầu vào được khái quát bởi hàm sản xuất: Y = F(N, LA).
+ Giai đoạn đang phát triển: Do đất bị giới hạn về diện tích nên không thể tiếp tục mở rộng QMĐ, trong khi LĐNN vẫn đang ở trạng thái dư thừa dẫn đến S/LA giảm, vì thế để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp, bắt buộc phải tăng NSĐ. Với thành tựu của ngành công nghiệp về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, các giống mới có năng suất cao của cuộc cách mạng xanh cùng sự phát triển của hệ thống thủy lợi đã cung cấp thêm những yếu tố đầu vào cho SXNN và đẩy mạnh sự tăng trưởng của sản lượng, giai đoạn này YA/S tăng mạnh nhưng vẫn chịu sự chi phối của quy luật năng suất biên giảm dần, nếu tiếp tục tăng lượng phân bón, thuốc hóa học, lao động đến một mức nào đó sẽ làm giảm YA/S và sản lượng. Hàm sản xuất của giai đoạn đang phát triển: Y = F (N, L) + F (R) Trong đó R là các yếu tố đầu vào từ công nghiệp. + Giai đoạn phát triển cao: Khi nền kinh tế toàn dụng, công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh thu hút LĐNN chuyển dịch sang, giảm tối đa lượng lao động trong nông nghiệp, do vậy giảm lượng lao động trên một đơn vị diện tích và sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào công nghệ thâm dụng vốn (máy móc, công nghệ hiện đại).
Giai đoạn này sản lượng tăng do cả hai yếu tố NSĐ và hệ số đất - lao động đều tăng, và hàm sản xuất có dạng: Y = F (N, L) + F(R) + F(K) Trong đó K là vốn sản xuất. Một lần nữa qua các giai đoạn phát triển của nông nghiệp khẳng định vai trò quan trọng của NSĐ đối với việc tăng NSLĐNN và sản lượng, đặc biệt trong giai đoạn đang phát triển khi mà lượng LĐNN vẫn còn đang trong tình trạng bán thất 17 18 nghiệp. Xu hướng chuyển dịch NSLĐNN có tính quy luật tăng dần tương ứng với số LĐNN giảm dần. NSLĐ Thu nhập trên lao động F1 I2 y2 I1 y1 F2 K1 K2 L2 L1 Vốn sản xuất (K) Lao động (L) Hình 1.1: NSLĐ và thu nhập của một LĐNN Hình 1.1 cho thấy thay đổi vốn theo hướng tăng lên sẽ tăng NSLĐ, tương ứng sẽ giảm bớt số lượng lao động ở khu vực nông nghiệp và thu nhập tăng.
Randy Barker (2002): Phương trình NSLĐNN: Ya A ya = x A La Trong đó: y A : NSLĐNN. YA : Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp. LA : Số lượng LĐNN. YA Như vậy NSLĐNN phụ thuộc vào (i) NSĐ nông nghiệp ( ) và (ii) QMĐ nông A A nghiệp ( ).
La 18 19 Con đường tăng trưởng NSLĐNN của các nước trên thế giới trong lịnh sử cho thấy dịch chuyển theo hướng như trong hình 1. NSĐ C B A Đất/lao động ấ Hình 1.2: Con đường tăng trưởng NSLĐNN trên thế giới - Trong thời kỳ đầu phát triển nông nghiệp, NSLĐNN tăng chủ yếu do tăng diện tích đất nông nghiệp. Dân số còn thấp so với QMĐ nông nghiệp, nên công nghệ sản xuất trong nông nghiệp chủ yếu là quảng canh và sản lượng tăng nhanh do mở rộng diện tích. Đường biểu diễn tăng trưởng NSLĐNN xuất phát từ điểm A, rồi dịch chuyển theo hướng đi lên.
Do tài nguyên đất nông nghiệp có giới hạn, trong khi dân số không ngừng tăng lên, do đó để đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng trong nông nghiệp, công nghệ mới được áp dụng trong sản xuất. Công nghệ mới chủ yếu trong giai đoạn này là sử dụng giống mới, sử dụng các loại phân hoá học và thủy lợi. Công nghệ này làm tăng sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích và thâm dụng lao động. Do đó đường tăng trưởng NSLĐNN dịch chuyển đi lên và hướng về phía bên trái tại điểm B.
- Giai đoạn phát triển cao, dưới tác động của sự phát triển của các ngành kinh tế khác nông nghiệp hút nhanh LĐNN. Để đáp ứng yêu cầu này , trong nông nghiệp áp dụng công nghệ cơ giới hoá.