CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm chính 1.1 Cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực bao gồm kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao …. nên có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh. Theo tác giả thì những khái niệm sau đây thể hiện đầy đủ và chính xác nhất về bản chất của cạnh tranh: Cạnh tranh là giành giật những điều kiện thuận lợi để chiếm ưu thế trong sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm. Ưu thế ở đây có thể để đến là chất lượng của sản phẩm, bí quyết công nghệ hay cũng có thể chính là năng lực sản xuất.
Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi (Đặng Đức Thành, 2010).2 Lợi thế cạnh tranh Tùy theo mỗi doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh khác nhau, để có thể thành công trên thị trường tức là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh so với các đối thủ. Mặt khác, lợi thế cạnh tranh có thể được biểu hiện ở 3 góc độ: hoặc phí tổn thấp hơn, có những khác biệt độc đáo so với đối thủ hoặc tập trung trước tiên vào phân khúc thụ trường nào đó để phát triển (Porter,1996). Trong đó về phí tổn thấp là trong những điều kiện và khả năng kinh doanh tương đương, doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm tương đương về giá cà, chất lượng, mẫu mã so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhưng chi phí thấp hơn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Về khác biệt hóa là nhấn mạnh đến các ưu điểm đặc biệt của sản phẩm như chất lượng, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ. Về tập trung vào một phân khúc thị trường là tập trung nhằm thỏa mãn nhu cầu của một nhóm khách hàng cụ thể nào đó. Thị trường này có thể dựa trên cơ sở địa lý, giới tính, lứa tuổi. Việc tập trung này không nhất thiết là tập trung vào chỉ một phân khúc thị trường, có thể tập trung vào nhiều phân khúc thị trường để phát triển Thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên quan điểm chung của các tác giả đều tập trung vào những vấn đề cơ bản đó là lợi thế cạnh tranh là nền tảng cho sự cạnh tranh, là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, làm tốt hơn đối thủ, là nhân tố cần thiết cho sự thành công và phát triển của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
Tóm lại, xây dựng được lợi thế cạnh tranh là phát huy được nội lực của doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm có tính đặc thù riêng biệt so với đối thủ bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển doanh nghiệp. Các giai đoạn phát triển của lợi thế cạnh tranh Khả năng cạnh tranh mang tính động. Ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì lợi thế cạnh tranh cũng bị chi phối bởi các yếu tố khác nhau, đó là: - Trong giai đoạn phát triển dựa vào nguồn lực, cạnh tranh được quyết định bởi điều kiện các yếu tố sản xuất cơ bản như giá nhân công rẻ và khả năng tiếp cận các nguồn lực tự nhiên, vị trí địa lý. Trong giai đoạn này các doanh nghiệp tập trung vào các ngành công nghiệp khai thác nguồn lực có sẵn và các ngành công nghiệp chế biến thâm dụng lao động, chứ chưa tạo ra các mắt xích giá trị với các doanh nghiệp khác nên nền kinh tế rất nhạy cảm đối với chu kỳ kinh doanh thế giới, sự dao động trong giá hàng hoá và tỷ giá hối đoái.
Công nghệ trong giai đoạn này chủ yếu được lan truyền thông qua nhập khẩu. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong giai đoạn này chủ yếu là giá, dường như các nhà sản xuất chưa có khả năng tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Trong giai đoạn phát triển dựa vào đầu tư, lợi thế cạnh tranh được quyết định thông qua việc cải thiện hiệu quả sản xuất đối với những sản phẩm tiêu chuẩn. - Trong giai đoạn phát triển dựa vào đổi mới, cạnh tranh nằm ở khâu sản xuất ra những sản phẩm với công nghệ tiên tiến nhất được thị trường chấp nhận.3 Năng lực cạnh tranh Các công ty luôn nổ lực để đạt những mục tiêu về lợi nhuận, sự tăng trưởng thông qua họat động sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh là chìa khóa cho sự thành công hay thất bại của nổ lực này.
Theo quan điểm của Keinosuke Ono và Ttsuyuki Negoro thì năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty để đánh bại các công ty đối thủ đang ganh đua đạt được thị phần. Năng lực cạnh tranh chính là điều kiện đầu vào để tạo nên lợi thế cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh chính là kết quả của đầu ra. Khái niệm “khả năng cạnh tranh” (competitiveness) thường dùng để nói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánh.Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo để tạo sản phẩm có giá thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Thực tế còn rất nhiều khái niệm khác về cạnh tranh, theo tác giả chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là những giá trị gia tăng sinh ra từ bên trong hay bên ngoài mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng và khai thác các nguồn nội lực cũng như tân dụng các cơ hội bên ngoài một cách hiệu quả nhất.
Qua đó doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh vượt trội so với đối thủ hiện tại cụng như đối thủ tiềm ẩn trong tương lai.4 Vị thế cạnh tranh Vị thế cạnh tranh chính là thế đứng của doanh nghiệp trên thị trường bao gồm thị phần và độ ổn định của nó. Nếu một doanh nghiệp có giá rẻ có công dụng đặc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 biệt nhưng có thị phần quá nhỏ thì vẫn có vị thế cạnh tranh thấp do lợi thế cạnh tranh không đủ để chi phối thị trường. Ngược lại, nếu quy mô doanh nghiệp đủ lớn nhưng không có lợi thế cạnh tranh cao thì thị phần đó sẽ không bền vững dễ bị các đối thủ tiềm năng khác xâm lấn.5 Độ bền lợi thế cạnh tranh Theo những nghiên cứu của Barney và nhiều định nghĩa khác người ta rút ra một định nghĩa chính thống: "Độ bền của lợi thế cạnh tranh là sự duy trì những chiến lược tạo ra các giá trị độc nhất của công ty mà không có đối thủ nào có thể tạo ra cùng lúc hoặc bắt chước các giá trị đó". Mối liên hệ chung: qua các khái niệm trên chúng ta thấy có quan hệ hữu cơ giữa năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh.
Muốn có vị thế cạnh tranh phải có lợi thế cạnh tranh.Lợi thế cạnh tranh có được khi doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh.Tuy nhiên, có năng lực cạnh tranh không có nghĩa là có đuợc lợi thế cạnh tranh. Để biến năng lực cạnh tranh thành lợi thế cạnh tranh, các năng lực cạnh tranh phải có sự cân đối, bổ sung cho nhau và điều quan trọng là phải thực thi những chiến lước đúng đắn để có thể biến các năng lực cạnh tranh thành lợi thế cạnh tranh.2 Đặc điểm về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm Việc cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm xuất phát có những đặc thù sau: Trước hết, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm về sản phẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, phát triển kênh phân phối sản phẩm và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin. Doanh nghiệp bảo hiểm thường áp dụng biện pháp mở rộng quá mức quyền lợi bảo hiểm để có thể dễ dàng ký kết được hợp đồng và giành lấy thị phần một cách nhanh chóng. Thứ hai đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài về cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ đã cam kết tại WTO.
Việt Nam đã gia nhập WTO, chúng ta TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 cam kết thực hiện một nền thương mại tự do công bằng với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, trong đó thách thức lớn nhất là sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp. Chúng ta sẽ khó có thể hội nhập thành công và có hiệu quả nếu không tạo được chất lượng sản phẩm và uy tín thương hiệu. Thứ ba là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác như thu hút tiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản. Bên cạnh những nội dung cạnh tranh chính như đã nói ở trên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn có nhiều vấn đề nổi cộm như cạnh tranh hạ phí, tăng chi phí khai thác, chưa kiểm soát được trục lợi bảo hiểm, dùng áp lực của các mối quan hệ để chi phối khách hàng, độc quyền kinh doanh bảo hiểm đối với một số ngành đặc thù.
Việc hạ phí bảo hiểm nhằm có được thị phần hay giành được dịch vụ không phải là hình thức cạnh tranh mới song lại đang trở thành công cụ cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay. Trên thực tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện tình trạng có những sản phẩm bảo hiểm mức phí đã giảm từ 40-50%, thậm chí còn thấp hơn quy định của Bộ Tài chính rất nhiều lần. Để giành được dịch vụ, nhiều công ty bảo hiểm sẵn sàng hạ phí bằng mọi giá mà không tính đến hiệu quả kinh doanh Trong lĩnh vực bảo hiểm, để phân tán rủi ro, các doanh nghiệp thường duy trì hoạt động tái bảo hiểm cho nhau, vì vậy các sản phẩm bảo hiểm có tính tương đồng và tính quốc tế rất cao.