Chương 1: Tổng quan về hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trong. phát triển ồn định hơn. Ngoài ra, các NHTM còn có thể sử dụng các dịch vụ bỗ trợ khác để thu hút khách hàng, tạo thêm một phan thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ, tư vấn tài chính. Tuy nhiên, sự đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ cần phải được thực hiện trong tương quan so sánh với các nguôn lực hiện có của ngân hàng nếu không điều này có thể khiến ngân hàng tốn nhiều chỉ phí do dàn trải quá mức các nguôn lực mà lại không mang lại hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng.
Năng lực về công nghệ thông tin. Công nghệ ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng giúp ngân hàng có thể tiếp cận với sản phẩm dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, xây dựng văn hóa kinh doanh hiện đại và hình ảnh tốt về ngân hàng trong công chúng. Từ đó, tạo ra lợi thế cạnh tranh và quyết định sự thành bại của một ngân hàng trong thời đại ngày nay. Năng lực về công nghệ thông tin được đánh giá chủ yếu thông qua khả năng trang bị công nghệ mới của các NHTM.
Điều này có thể được giải thích như sau: với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin và công nghệ ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện đại mà không chú ý đến khả năng thay đổi và nâng cấp trong tương lai thì dễ dẫn đến công nghệ lạc hậu so với các ngân hàng áp dụng công nghệ tiên tiến có hiệu quả. Điều đó sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong môi trường kinh doanh bình đẳng. Vì vậy, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng đôi mới công nghệ của các ngân hàng. Bên cạnh đó, năng lực về công nghệ thông tin còn được biểu hiện qua tính độc đáo và tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng.
Tính độc đáo về công nghệ thể hiện sự riêng biệt về công nghệ của từng ngân hàng, giúp thu hút khách hàng, còn việc liên kết công nghệ giữa các ngân hàng sẽ giúp cho các sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng không bị đơn phương, cục bộ từ đó giúp các ngân hàng giảm ch¡ phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ ngân hàng nào. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngân hàng qua tiêu chí nguồn nhân lực, ta SSS a Trang 14 Chương 1: Tong quan về hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trong.
thường xét các yếu tố: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phân đâu, mức độ cam kêt găn bó với ngân hàng. Trình độ đảo tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng, quyết định đến công tác quản trị điều hành của ngân hàng. Ngân hàng muốn phát triển, mở rộng hoạt động phải có nguồn nhân lực tương ứng để quản lý.
Dù ngân hàng có đầu tư công nghệ hiện đại mà không có nguồn nhân lực có trình độ để khai thác, sử dụng, quản lí thì không thể nói đến nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Sản phẩm của ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ có tính vô hình. Sự khác biệt về chất lượng sản phẩm của các NHTM với nhau rất khó phân biệt. Vì chất lượng giao dịch của các nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng của ngân hàng chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa các ngân hàng, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng.
Như vậy chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng để tạo nên sự khác biệt và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Ngoài ra, động cơ phan đấu và mức độ cam kết gắn bó cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không. Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm và kiến thức vững vàng được tích lũy theo thời gian. Vì thế, để duy trì nguồn nhân lực có chất lượng cao thì ngân hàng cần có các chính sách nhân sự, chính sách tuyển dụng, chế độ lương thưởng phù hợp và hấp dẫn.
Năng lực về quản trị điều hành. Một yếu tổ quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh nghiệp, những quyết định của họ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chết để ngân hàng có một chiến lược kinh doanh đúng dan trong đài hạn.
Thông thường, để đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một ngân hàng người ta xem xét đánh SSS Trang 15 Chương 1: Tổng quan về hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trong. giá các chuẩn mực và các chiên lược mà ngân hàng xây dựng cho hoạt động của mình. Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bắt trắc là băng chứng cho năng lực quản trị cao của ngân hàng. Một vài tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là: - Các chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả. - Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các NHTM trong nước. Sự cạnh tranh lành mạnh và hợp tác hiệu quả giữa các ngân hàng trong nước là nền tảng để tạo ra sức mạnh của cả hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng trong nước.
Đánh giá tiêu chí cạnh tranh và hợp tác giữa các ngân hàng trong nước ta cân làm rõ những vân đê sau: - Các quy định pháp lý và các chính sách về cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước: đây là nền tảng của sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các ngân hàng, tạo động lực cho các ngân hàng phát triển. Nếu các quy định pháp lý và các chính sách về cạnh tranh không phù hợp có thể tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng, gây tâm lí bất mãn cho nhiều người, từ đó có thể gây lãng phí nguồn nhân lực và làm yếu đi lợi thể cạnh tranh của các ngân hàng trong nước. - Đặc điểm chiến lược cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước: là yếu tố quan trọng hơn quyết định sự lành mạnh của môi trường cạnh tranh và được thể hiện ở sự đa dạng của các chiến lược cạnh tranh, các phương thức và phương pháp cạnh tranh. - Những hình thức và hiệu quả hợp tác giữa các ngân hàng trong nước: là những chỉ tiêu biểu hiện sự hợp tác giữa các ngân hàng trong nước.
Sự hợp tác giữa các ngân hàng trong nước góp phần tạo uy tín, danh tiếng cho các ngân hàng từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng. Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các NHTM. Các nhân tỗ khách quan. SSS Trang 16 Chuong 1: Téng quan về hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trong.2: Các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM.
NHTM mới Khách hàng > NHTM < NHTTM hiện tại Dịch vụ mới Có 4 lực lượng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một NHTM, đây là những nhân tố khách quan và có thể được mô tả qua Sơ đồ 1.2 ở trên: - Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường: các NHTM mới tham gia thị trường với những lợi thế quan trọng như: mở ra những tiềm năng mới; có động cơ và ước vọng giành được thị phần; đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động; có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường. Như vậy, bắt kế thực lực của NHTM mới là thế nào thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó. - Tác nhân là các đối thủ NHTM hiện tại: đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh của NHTM trong tương lai.
Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đây ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh. - Sức ép từ phía khách hàng: Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Những người bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó, những người mua sản phẩm lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi †— _——————Ễ——““—ỂỂẾỄƑ†Ễ Trang 17 Chương 1: Tông quan về hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trong.
nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể. Điều này đặt ra cho ngân hàng nhiều khó khăn trong định hướng cũng như phương thức hoạt động trong tương lai. - Sự xuất hiện các dịch vụ mới: sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm.