CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh được hiểu là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh trên thị trường thì không bị giới hạn bởi các yếu tố không gian và thời gian. Theo nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, cạnh tranh là một trong những động lực phát triển của nền kinh tế. Theo Các Mác trong giáo trình Kinh tế chính trị học, NXB Chính trị quốc gia 2006 định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo nhà kinh tế học P.Samuelson lại cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường”.H tác giả cuốn Từ điển Kinh doanh rút gọn xuất bản năm 1993 ở Anh thì "Cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình ". Đứng trên góc độ thị trường, theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004) tác giả của cuốn sách “Thị trường, chiến lược, cơ cấu: cạnh tranh về giá trị gia tăng, định vị và phát triển doanh nghiệp” có định nghĩa: “Cạnh tranh trong thị trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ cạnh tranh của mình”. Trong cuộc tranh tài và khẳng định mình của các DN, mỗi DN đều phải nỗ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 lực không ngừng để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình và điều quan trọng là không bao giờ được tự mãn nếu DN không muốn sớm bị đào thải khỏi thị trường. Tại diễn đàn Liên hợp quốc, trong một báo cáo về cạnh tranh có định nghĩa rằng “Cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”.
Trên thực tế, còn rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh của doanh nghiệp, theo tác giả “Cạnh tranh là một quá trình mà trong đó chủ thể cạnh tranh sẽ thực hiện mọi biện pháp để vượt lên so với đối thủ cạnh tranh về một lĩnh vực nhất định, đó có thể là lĩnh vực thế mạnh của chủ thể cạnh tranh. Trong quá trình này, chủ thể cạnh tranh tạo ra được sự nổi trội nhất định so với đối thủ cạnh tranh”. Tất cả những điều mà chủ thể cạnh tranh làm đều nhằm mục đích là đem lại cho khách hàng sự thỏa mãn cao nhất và để ứng phó linh hoạt với những biến động trong nền kinh tế thị trường.2 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm được nói đến nhiều trong một vài năm gần đây và nó đang được quan tâm nhiều đối với các DN đang tìm kiếm biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Có rất nhiều khái niệm về lợi thế cạnh tranh.
Tuy nhiên, trong luận văn của mình tác giả chỉ đề cập đến một số khái niệm cơ bản. Theo Michael Porter tác giả cuốn Lợi thế cạnh tranh (1996) định nghĩa: “Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ như về chất lượng, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ,. khiến người mua chấp nhận thanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 toán một mức giá cao hơn hoặc việc tập trung vào một phân khúc thị trường hay nhiều thị trường để phát triển”.
Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì lợi thế cạnh tranh được định nghĩa là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng sự thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”. Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Mỹ lại sử dụng định nghĩa lợi thế cạnh tranh đối với một quốc gia như sau: “Lợi thế cạnh tranh đối với một quốc gia là lợi thế mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, quốc gia đó có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước mình”. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng đã đưa ra một định nghĩa về lợi thế cạnh tranh quốc gia riêng, đó là: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo tác giả, lợi thế cạnh tranh là nền tảng cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp, những gì làm cho doanh nghiệp khác với đối thủ, nổi bật hơn mà các đối thủ cạnh tranh không làm được, hay bản thân doanh nghiệp thực hiện một cách nổi trội hơn.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm NLCT được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980, Theo Aldington Report (1985) có định nghĩa: “DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN”. Định nghĩa này được nhắc lại trong “Sách trắng về NLCT của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa về NLCT như sau: “Đối với DN, NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các DN khác”.
Theo Buckley (1988), NLCT của DN cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của DN với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của DN, mục đích chính của DN và các mục tiêu giúp các DN thực hiện chức năng của mình. Theo Lê Đăng Doanh tác giả cuốn sách Nâng cao NLCT của DN thời hội nhập định nghĩa: “NLCT của DN được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Bạch Thụ Cường, từ điển thuật ngữ chính sách thương mại lại quan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ: “năng lực cạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và lành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Diễn đàn Kinh tế thế giới lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”. Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi. Năng lực cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội.
Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân”. Như vậy, tất cả các định nghĩa về cạnh tranh trên đây đều là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể, cá thể huy động hết tất cả nguồn lực của mình, trên cơ sợ sử dụng nhiều phương thức khác nhau để giành các ưu thế trên thương trường để đạt được mục đích kỳ vọng và mục tiêu kinh tế (thị phần, khách hàng, tiện ích và lợi nhuận). Theo tác giả, một khái niệm NLCT của DN phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao LTCT trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững, tổ chức quản lý tốt, đi đầu về ứng dụng công nghệ mới.4 Khái niệm năng lực cốt lõi Năng lực lõi là khái niệm do Michael Porter đưa ra đầu tiên khi bàn về quản trị chiến lược. Theo ông, một doanh nghiệp muốn thành công khi hoạch định chiến lược kinh doanh phải dựa trên những năng lực lõi của mình để tận dụng những cơ hội vàvượt qua những thách thức của môi trường kinh doanh.
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004), tác giả của cuốn “Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu: Cạnh tranh về giá trị gia tăng, Định vị và phát triển doanh nghiệp” thì sự phát triển mang tính lâu dài và bền vững của doanh nghiệp phải dựa cơ bản trên việc định vị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 rõ năng lực lõi: “Năng lực lõi là tất cả các kiến thức, công nghệ, kỹ năng, kinh nghiệm cơ bản cho hoạt động và mang đến cho doanh nghiệp những đặc thù riêng biệt”. Trong một bài báo năm 1990 “The core competence of the corporation” C.