CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Các khái niệm cơ bản. Thị trường: Theo M.E Porter, Giáo sư trường Đại học Harvard: Thị trường là một nhóm khách hàng tiềm năng với nhu cầu giống nhau, sẵn sàng trao đổi cái gì đó có giá trị về hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của họ_[5]. Thị trường là tập hợp những khách hàng hiện có và tiềm năng, để tồn tại và phát triển DN phải tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu thị trường Cạnh tranh: Cạnh tranh là quá trình mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để vượt lên so với đối thủ về một lĩnh vực nhất định.
Trong nhiều trường hợp qúa trình này là sự thi đua hay sự ganh đua. Cạnh tranh cũng có thể được hiểu là quá trình tạo ra sự nổi trội của chủ thể so với đối thủ. Đây là một quá trình sáng tạo và đổi mới có tính chất toàn diện. Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận.
Trong quá trình cạnh tranh nhất thiết phải có đối thủ cạnh tranh.Tuy nhiên, cạnh tranh trên thương trường không nhất thiết là diệt trừ đối thủ của mình mà phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn đối thủ của mình. Cạnh tranh có thể mang lợi ích cho người này nhưng lại có thể gây thiệt hại cho người khác, cạnh tranh là nguồn gốc tạo nên động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. 4 Năng lực cạnh tranh. NLCT đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập.
Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng, nhưng lại có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ NLCT và các cấp độ áp dụng cũng rất khác nhau. Tuy nhiên cho đến nay NLCT nói chung được định nghĩa trên ba cấp độ như sau: Xét trên phạm vi một quốc gia và trong lĩnh vực kinh tế: NLCT của quốc gia chính là phải có nhiều DN có NLCT cao, với nhiều sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Xét trên phạm vi sản phẩm thì NLCT của sản phẩm chính là lợi thế của sản phẩm đó đạt được so với sản phẩm khác, có thể là giá cả, chất lượng, mẫu mã, hay tính năng. Xét theo phạn vi của DN thì NLCT của DN được định nghĩa theo các quan điểm sau: Theo cách hiểu của các nhà kinh tế: NLCT của DN là khả năng DN tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra NSLĐ và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Phân tích theo quan điểm tổng thể, khái niệm NLCT của DN là những lợi thế, những ưu điểm của DN trong sự tương tác với các DN khác trong ngành, và trong từng thị trường, trong một khoảng thời gian xác định. Lợi thế của doanh nghiệp có thể là về nguồn nhân lực, tình hình tài chính, quy trình công nghệ sản xuất, hoạt động Marketing, hay hoạt động nghiên cứu phát triển. trong cơ hội, thách thức thị trường đem lại. Tức là khi các yếu tố bên ngoài DN, bao gồm: các 5 yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường ngành thay đổi, thì NLCT của DN cũng thay đổi.Porter, Năng lực cạnh tranh (NLCT) là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận[6].
NLCT của DN là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển chính bản thân DN_[5]. Người ta đánh giá khả năng cạnh tranh của DN thông qua các yếu tố nội tại như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ. Tuy nhiên, khả năng này bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài (Nhà nước và các thể chế trung gian). DN nào có khả năng sáng tạo và đổi mới lớn thì DN đó có khả năng cạnh tranh cao_[5].
Việc nâng cao NLCT sẽ giúp DN tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày cành quyết liệt. Lợi thế của doanh nghiệp có thể là về nguồn nhân lực, tình hình tài chính, quy trình công nghệ sản xuất, hoạt động Marketing, hay hoạt động nghiên cứu phát triển. trong cơ hội, thách thức thị trường đem lại. Tức là khi các yếu tố bên ngoài DN, bao gồm: các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường ngành thay đổi, thì NLCT của DN cũng thay đổi.
Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật phản ánh NLCT của DN. Như trên đã nói, người ta đánh giá khả năng cạnh tranh của DN thông qua các yếu tố nội tại như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ. Tuy nhiên, khả năng này bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài (Nhà nước và các thể chế trung gian). Ngoại trừ các chỉ tiêu định tính như: Uy tín của doanh nghiệp, năng lực quản trị… trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua một số các chỉ tiêu định lượng sau: 6 1.
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá NLCT của DN so với các DN khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần thị trường mà DN chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do đó thị phần của DN được xác định: Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần của DN = Tổng doanh thu toàn ngành Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng. Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường.
Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành. Tốc độ tăng trưởng doanh thu. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ.
Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu như sau: 7 Trong đó DT0 là doanh thu của kỳ hiện tại. DTi là doanh thu của i kỳ trước.
Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốn tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần. Lưu ý là mặc dù doanh thu âm có thể xuất hiện trong báo cáo kinh doanh quý (trong trường hợp hàng bán của quý trước đó bị trả lại), nhưng không được phép xuất hiện trong các báo cáo kinh doanh năm. Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc lĩnh vực mới.
Tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao không nhất thiết đi kèm với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao. Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm 1. Năng suất lao động.
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó. Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong 8 sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay. Năng suất lao động được tính theo công thức sau: Năng suất lao động = Giá trị gia tăng (hoặc GDP) / Số lượng lao động Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm. Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất.
Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên. Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh và khả năng cạnh tranh của DN. Bởi thông qua năng suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độ công nghệ của DN. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá NLCT của DN. Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh của DN cao.