CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CƠ BẢN VE LỢI NHUẬN CUA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và lợi nhuận của doanh nghiệp 1. Khai niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhăm làm tăng giá tri của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân.
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân. Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch én định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhăm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Lợi nhuận của doanh nghiệp Marx là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị. Theo ông, lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự gống nhau về lượng và khác nhau về chất.
+ Về lượng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lượng lợi nhuận bằng lượng giá trị thặng dư, nếu giá cả hàng hoá không nhất trí với giá trị của nó thì mỗi tư bản cá biệt có thể thu được lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư, nhưng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng sỐ giá trị thặng dư. + Về chất, giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá trị tư bản khả biến va do sức lao động được mua từ tư bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư thông qua trao đôi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy được nguồn gốc quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Kế thừa được những gi tinh tế nhất của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, kết hợp với quá trình nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Karl Marx đã chỉ rõ được nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và quan điểm về lợi nhuận của ông là hoàn toàn đúng dan, do đó ngày nay khi nghiên cứu về lợi nhuận chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Karl Marx.
Ở nước ta theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh có tên riêng, tải sản, trụ sở giao dịch én định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Mà kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Điều đó chứng tỏ rằng lợi nhuận đã được pháp luật thừa nhận như là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy lợi nhuận là gì? Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.
Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập (income) và chi phi (expenses) mà doanh nghiệp bỏ ra dé đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Phân loại về lợi nhuận Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, dé tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thé dat được từ nhiều hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là: - Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm va chi phí đã bỏ ra của khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, lao vụ của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính mang lại: là khoản chênh lệch giữa các khoản thu va chi có tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh. Các hoạt động nghiệp vụ tai chính gồm: hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh ccủa doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cô phần và hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và lợi nhuận thu được từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác. - Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác (hoạt động bat thường): là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Như vậy, lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác bao gồm: khoản phải trả nhưng không trả được do phía chủ nợ, khoản nợ khó đòi đã duyệt bỏ nay thu hồi được, lợi nhuận từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
Khoản thu vật tư tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt, mất mát, khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định. Lợi nhuận các năm trước phát hiện năm nay, hoàn nhập số dư các khoản dự phòng, giảm giá hang tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, tiền trích bao hành sản phẩm còn thừa sau khi hết hạn bảo hành. Phương pháp xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp Như chúng ta đã biết, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp bao gồm nhiều bộ phận khác nhau do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra là đa dạng và phong phú. Vì vậy mà mỗi bộ phận lợi nhuận thu được từ những hoạt động khác nhau thì sẽ có phương pháp xác định khác nhau.
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh đoanh là lợi nhuận do tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy định của pháp luật (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp). Đây là bộ phận lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ lợi nhuận. Bộ phận lợi nhuận này được xác định băng công thức sau: Lợi nhuận Doanh thu l Chi phí ` Giá vôn Chỉ phí hoạt động =_ thuân - - - quan ly ban hang ban hang SXKD trong ky DN Trong do: - Doanh thu thuan tir hoat động san xuất kinh doanh: là toàn bộ gia tri cua sản pham hang hóa cung ứng dich vụ trên thi trường được thực hiện trong một thời kỳ nhất định sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như: giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp (nếu có). + Giảm giá hàng bán: Số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho người mua vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp (hàng sai quy cách, kém pham chất.) hoặc số tiền thưởng cho người mua do mua một lần với số lượng lớn (bớt giá) hoặc số lượng hàng mua trong một khoảng thời gian là đáng ké.
+ Hàng bán bị trả lại: Phản ánh doanh thu của SỐ hàng tiêu thụ bị khách hàng trả lại, do lỗi thuộc về doanh nghiệp như vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng, hàng sai quy cách,. + Thuế tiêu thụ bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khâu, là nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ sản pham,. ` Tổng chi phí liên quan đến hàng hóa tiêu thụ trong kỳ bao gồm: - Tổng trị giá vốn của hàng hóa tiêu thụ trong kỳ là khái niệm dùng chung cho tat cả các doanh nghiệp dé chỉ giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp thương mại ; chỉ tiêu này có thể là giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất. - Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm dich vụ phân bé cho sản phâm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí phục vu cho việc điều hành và quan ly chung trong toàn doanh nghiệp phân bé cho sản phẩm hang hóa dịch vu đã tiêu thụ trong kỳ. Chi phí ban hang và chi phí quản ly doanh nghiệp là hai khoản lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Đây là bộ phận lợi nhuận được xác định bằng chênh lệch giữa các khoản thu và chi về hoạt động tài chính bao gồm: - Lợi nhuận về hoạt động góp vốn tham gia liên doanh. - Lợi nhuận về hoạt động đầu tư, mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
- Lợi nhuận về cho thuê tài sản. - Lợi nhuận về các hoạt động đâu tư khác. - Lợi nhuận về chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hang. - Lợi nhuận cho vay vốn.
- Lợi nhuận do bán ngoại tệ. Bộ phận lợi nhuận này được xác định băng công thức sau: Lợi nhuận ; Doanh thu hoạt Chi phí hoạt động hoạt động tài = - động tai chính tài chính chính Trong đó: - Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến hoạt động về vốn. - Chi phí hoạt động tài chính là những khoản chi phí và các hoạt động lỗ liên quan đến hoạt động về vốn.