Chương I: Một số lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ. Chương III: Một số giải pháp để nâng cao khả năng huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ. Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm, thời gian tìm hiểu thực tế.
Vì vậy đề tài khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng bảo vệ để đề tài khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Phú thọ, tháng 4 năm 2013 Sinh viên Nguyễn Kim Oanh 10 Nguyễn Kim Oanh Lớp 509TNC2 Ngành Tài chính - Ngân hàng CHƢƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. 1 Ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại.
Hệ thống ngân hàng thương mại ra đời là kết quả của quá trình hình thành và phát triển lâu dài của kinh tế hàng hoá, của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Tuy nhiên khái niệm về ngân hàng thương mại ( NHTM ) ở mỗi nước có những điểm khác nhau: Vào năm 1930, Đan Mạch ra luật ngân hàng trong đó có định nghĩa: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân.” Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Mỹ, Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Còn ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty tài chính năm 1990 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".
Luật các tổ chức tín dụng của Quốc Hội Việt Nam khóa 10 (Luật số 02/1997/QH10) Điều 20: “NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.” 11 Nguyễn Kim Oanh Lớp 509TNC2 Ngành Tài chính - Ngân hàng Mỗi khái niệm có khác nhau nhưng đều khẳng định rằng ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số những tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này được gọi chung là các định chế tài chính có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tâm lý…đồng thời ngân hàng lại có khả năng tác động trở lại các yếu tố này. Không thể phủ nhận rằng nền kinh tế của chỉ phát triển ổn định và bền vững khi có chính sách tài chính – tiền tệ đúng đắn và hệ thống ngân hàng hoạt động đủ mạnh, có khả năng thu hút tập trung các nguồn vốn và phân bổ hợp lý nguồn vốn đó vào các ngành sản xuất kinh doanh.2 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại.
Chức năng trung gian tài chính. Đây là chức năng đặc trưng và quan trọng nhất của các NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay và người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay.
Góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Chức năng trung gian thanh toán. Một trong những chức năng không kém phần quan trọng của NHTM là làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển của vốn bằng cách tổ chức thực hiện một cơ chế thanh toán chính xác, nhanh chóng và tiết kiệm. Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân.
Thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của họ. Khi thực hiện chức năng làm trung gian thanh toán NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như: séc, uy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng…và tùy theo nhu cầu khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ các phương tiện thanh toán này mà nhu cầu tiền mặt cho chi trả ngày càng giảm, tiết kiệm được thời gian, chi phí cho xã hội. 12 Nguyễn Kim Oanh Lớp 509TNC2 Ngành Tài chính - Ngân hàng Ngân hàng thực hiện chức năng này vì hoạt động quản lý, thanh toán trên tài khoản sẽ an toàn, thuận tiện hơn nhiều so với thanh toán bằng tiền mặt.
Để thực hiện tốt chức năng này ngân hàng phải tạo ra một cơ chế thanh toán hợp lý, thuận tiện, đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Chức năng tạo tiền. Tạo tiền là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng này được thực hiện và thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của NHTM trong mối quan hệ với khối dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng A, lập tức số tiền đó trở thành tiền gửi của khách hàng tại một ngân hàng khác. NHTM lại dùng vốn này để cho vay các đối tượng khác. Đây chính là khả năng tạo tiện của NHTM, để kiểm soát khả năng này, luật pháp cho phép NHNN được quyền buộc NHTM phải ký gửi tại NHNN một phần của tổng số tiền họ nhận được từ nền kinh tế-gọi là dự trữ bắt buộc.
Như vậy, khi một khối lượng tiền gửi tăng lên, khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ tăng lên rất nhiều lần. Ngược lại, khi bớt đi một lượng tiền gửi, khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ giảm đi rất nhiều lần. Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính sách tiền tệ của NHNN. Thông qua hệ thống NHTM, NHNN có thể tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng.
Ngoài chức năng trên NHTM còn có các chức năng khác như: chức năng ủy thác, chức năng bảo hiểm, chức năng mô giới… 1.3 Vai trò của ngân hàng thƣơng mại. Thứ nhất, ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để đầu tư vào sản xuất kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu khác. Hiện nay, với vai trò cầu nối, ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế bằng cơ chế tiền gửi có kỳ hạn và không có kỳ hạn, rồi tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho quá trình tái sản xuất. 13 Nguyễn Kim Oanh Lớp 509TNC2 Ngành Tài chính - Ngân hàng Thứ hai, ngân hàng thương mại hỗ trợ Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động cả NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các HNTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. Hơn nữa bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường điều khiển chúng có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô theo đúng phương châm: “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”. Các ngân hàng thương mại thực hiện đúng chức năng của mình để hướng tới mục tiêu lợi nhuận cho chính ngân hàng đồng thời đã góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế.
Ngân hàng thương mại ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo như những mục tiêu đã hoạch định. Thứ ba, ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hoà vốn giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh, các vùng trong một nước. Trong điều kiện Việt Nam, do sự khác nhau về địa lý, tự nhiên và con người mà có sự trên lệch về sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các tỉnh, thành phố; giữa miền xuôi và miền ngược; giữa khu vực nông thôn và thành thị. Nhờ hoạt động của mình và thông qua mạng lưới các chi nhánh, NHTM sẽ đứng ra điều hòa vốn, thu hút những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư vào cho nay ở những nơi thiếu vốn, từ đó góp phần rút ngắn chênh lệch về kinh tế giữa các ngành, các vùng.
Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn.