Chương I: VAI TRÒ, TÁC DỤNG CỦA VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN I. VAI TRÒ, TÁC DỤNG CỦA VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN. Khái niệm vận tải biển. Vận tải biển là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt.
Sản phẩm của ngành là sự di chuyển hàng hoá và hành khách trên các tuyến đường giao thông trên biển bằng các phương tiện riêng có của mình như tàu thuỷ, thuyền bè… với trình độ kỹ thuật ngày càng được cải tiến hiện đại và hoàn thiện. Vận chuyển trên biển có thể chia làm 3 loại: vận chuyển mang tính chất quân sự, vận chuyển phục vụ nghiên cứu khoa học và vận tải biển phục vụ mục đích kinh tế. Vận chuyển phục vụ mục đích kinh tế mới là nhiệm vụ chính của vận tải biển. Lúc đầu, vận tải biển chỉ mang tính giao thương cục bộ giữa các vùng lân cận trong một nước hoặc giữa các khu vực láng giềng có chung biển.
Dần dần, hoạt động này đã được mở rộng ra những nơi xa xôi giữa các nước vùng ven đại dương, rồi nối liền các đại dương với nhau. Vận tải biển bắt đầu trở thành ngành kinh tế độc lập từ thời kỳ Chủ nghĩa Trọng thương, khi xuất hiện mầm mống của CNTB ở Tây Âu, cũng là khi thương mại quốc tế ra đời. Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của vận tải biển; ngược lại, vận tải biển cũng hỗ trợ tích cực cho thương mại quốc tế. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và những ưu thế của đường biển, vận tải biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia có biển.
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Vân Nga - A8 K37 6 Đội tàu biển Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Vận tải biển là sự kết hợp các yếu tố: các tuyến đường vận chuyển trên biển, các phương tiện cơ bản để thực hiện vận tải trên biển (tàu thuyền các loại), các phương tiện hỗ trợ (bến cảng, hệ thống sản xuất chế tạo tàu thuyền và các công cụ đi biển) và lao động của thuỷ thủ. Vận tải biển bao gồm cả vận tải hàng hoá và vận tải hành khách nhưng trong phạm vi khóa luận này, vận tải biển sẽ chỉ được hiểu là vận tải hàng hoá. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển.
Vận tải đường biển chiếm vị trí hết sức quan trọng trong thương mại quốc tế. Loại hình vận tải này đảm nhiệm chuyên chở gần 80% tổng lượng hàng hoá buôn bán quốc tế. Vận tải biển có được vai trò đó là do những ưu thế nổi bật của ngành. Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở hầu như tất cả các loại hàng hoá.
Phương thức này đặc biệt phù hợp với các hàng hoá chuyên chở trên cự ly dài với khối lượng lớn. Từ các loại hàng rời, hàng khô đóng bao đến hàng bách hoá, hàng lỏng đều có thể sử dụng tàu biển để chuyên chở. Các tuyến vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên, do đó không cần phải đầu tư nhiều tiền vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản. Lợi thế này làm cho giá thành của vận tải đường biển thấp hơn so với các phương thức vận tải khác.
Năng lực chuyên chở của vận tải biển rất lớn. Các công cụ vận tải đường biển (tàu biển) nhìn chung không bị hạn chế về khả năng chuyên chở như trong vận tải đường bộ hay đường sắt. Trên cùng một tuyến đường biển có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời điểm cho cả hai chiều. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật, trọng tải tàu biển trung bình tăng nhanh và vẫn có xu hướng tăng với tất cả các nhóm tàu.
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Vân Nga - A8 K37 7 Đội tàu biển Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Ưu điểm nổi bật của vận tải biển là giá thành thấp, chỉ bằng 1/10 so với vận tải hàng không, chỉ cao hơn giá thành vận tải đường ống. Đó là nhờ trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở trung bình dài và năng suất lao động cao. Tuy vậy, vận tải đường biển cũng không tránh khỏi một số hạn chế.
Loại hình vận tải này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, một yếu tố rất khó kiểm soát. Môi trường hoạt động, thời tiết, điều kiện thuỷ văn trên mặt biển luôn ảnh hưởng đến quá trình chuyên chở. Những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra những tổn thất rất lớn cho tàu, cho hàng hoá và sinh mạng con người trên tàu. Tốc độ của tàu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác tàu biển chỉ có giới hạn nhất định.
Tốc độ của một tàu chở hàng bình thường là 16-20 hải lý/giờ, tàu có kỹ thuật hiện đại nhất cũng chỉ chạy được 35 hải lý/giờ. Thời gian giao hàng trong vận tải biển vì thế thường chậm. Phương thức này không thích hợp để chuyên chở các hàng hoá xuất nhập khẩu đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh. Như vậy, vận tải biển có vai trò đặc biệt trong thương mại quốc tế nhờ những ưu thế về khả năng phù hợp với nhiều loại hàng hoá, giá thành thấp và năng lực chuyên chở không bị hạn chế.
Mặc dù vậy, nó không thích hợp với chuyên chở các hàng hoá đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh do tàu biển có tốc độ không cao. Tác dụng của vận tải đường biển đối với thương mại quốc tế. Vận tải biển thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển và là một yếu tố không thể tách rời khỏi thương mại quốc tế. Khối lượng hàng hoá lưu chuyển giữa hai nước phụ thuộc vào nhiều điều kiện: tiềm năng kinh tế của hai nước, sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất của mỗi nước trong phân công lao động quốc tế, tình hình chính trị, điều Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Vân Nga - A8 K37 8 Đội tàu biển Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.
kiện và khả năng vận tải giữa hai nước. Sự phụ thuộc này được thể hiện qua công thức: trong đó: Q là khối lượng chuyên chở; P1 là tiềm năng kinh tế của nước thứ nhất; P2 là tiềm năng kinh tế của nước thứ hai; L là khoảng cách giữa hai nước (thời gian, không gian, hoặc kinh tế). Khoảng cách chuyên chở (L) trước hết phải hiểu là khoảng cách kinh tế, tức là chi phí vận tải. Chi phí này càng thấp, chuyên chở càng thuận lợi thì quy mô trao đổi hàng hoá giữa các nước càng lớn.
Chi phí vận tải chiếm tỷ trọng đáng kể trong giá cả hàng hoá. Theo thống kê của UNCTAD, chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB hoặc 8-9% giá CIF của hàng hoá tham gia buôn bán quốc tế. Do tiến bộ khoa học kỹ thuật và năng suất lao động gia tăng trong ngành vận tải mà giá cước trung bình trong vận tải biển quốc tế có xu hướng giảm xuống. Giá cước rẻ và chất lượng phục vụ nâng cao sẽ làm cho vận tải biển hấp dẫn hơn đối với các chủ hàng xuất nhập khẩu, qua đó góp phần gia tăng khối lượng hàng hoá trao đổi giữa các nước.
Nói cách khác, vận tải đường biển thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Vận tải biển và thương mại quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Vận tải tồn tại và phát triển trên cơ sở sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vận tải phát triển lại thúc đẩy sản xuất và trao đổi phát triển hơn nữa.
Thực tiễn thương mại cho thấy hợp đồng trong mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng và Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Vân Nga - A8 K37 9 Đội tàu biển Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. liên quan chặt chẽ với hợp đồng vận tải, thậm chí bao gồm cả hợp đồng vận tải. Đó là vì hợp đồng mua bán hàng hoá là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người mua và người bán; còn hợp đồng hợp đồng thuê chở điều chỉnh quanh hệ giữa người chuyên chở và người thuê chở; mà người thuê chở là người bán hay người mua lại phụ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán. Nhiều hợp đồng mua bán còn chỉ định trước người chuyên chở.
Chính từ mối quan hệ chặt chẽ này mà nhiều nước đặt tên luật hàng hải của họ là Luật Thương mại Hàng hải (Merchant Marine Transport Law). Thực tế đã chứng minh giao nhận vận tải có thể khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển buôn bán giữa các nước. Trong thương mại quốc tế, vận tải đường biển có ưu thế hơn đường không, đường bộ, đường sắt… khi chuyên chở những lô hàng có khối lượng lớn qua những tuyến đường dài. Vận tải biển giúp cho lưu thông hàng hoá giữa các nước thuận tiện và hiệu quả.
Bất cứ sự biến động nào của thị trường vận tải biển cũng ảnh hưởng tới hoạt động buôn bán quốc tế. Việc mua bán hàng hoá vận chuyển bằng đường biển phải tuân theo những điều kiện và luật lệ hàng hải quốc tế phức tạp. Do đó, mối quan hệ giữa thương mại quốc tế với vận tải biển cũng phức tạp hơn các phương thức vận tải khác. Vận tải biển góp phần thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế.
Sự ra đời của các phương tiện vận tải đường biển chuyên dụng có trọng tải lớn cùng với việc mở rộng mạng lưới các tuyến đường đã cho phép hạ giá thành vận tải, tạo điều kiện đa dạng hoá các chủng loại mặt hàng trong buôn bán quốc tế. Sự thay đổi cơ cấu mặt hàng trong buôn bán quốc tế được thể hiện rõ nhất đối với hàng lỏng, đặc biệt là dầu mỏ và sản phẩm dầu. Năm 1937, nhóm hàng lỏng chỉ chiếm 22% tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Vân Nga - A8 K37 10 Đội tàu biển Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Những năm sau chiến tranh thế giới thứ II, tỷ trọng mặt hàng lỏng trong tổng khối lượng hàng hoá chuyên chở bằng đường biển tăng đều và luôn ở mức trên 50%.
Kết quả này một mặt do sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp dầu mỏ, mặt khác do sự lớn mạnh nhanh chóng của vận tải biển quốc tế.