Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần May Sông Hồng

Bài viết đề xuất giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho công ty cổ phần may Sông Hồng, giúp tối ưu hóa hoạt động và phát triển bền vững.

2011

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Lý thuyết cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh

1.2. Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh

1.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân

1.2.2. Đối với doanh nghiệp

1.2.3. Đối với ngành

1.2.4. Đối với sản phẩm

1.3. Các hình thức cạnh tranh

1.3.1. Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh

1.3.2. Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh

1.3.2.1. Cạnh tranh hoàn hảo
1.3.2.2. Cạnh tranh không hoàn hảo
1.3.2.2.1. Cạnh tranh độc quyền
1.3.2.2.2. Cạnh tranh độc quyền tập đoàn

1.3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế

1.3.3.1. Cạnh tranh nội bộ ngành
1.3.3.2. Cạnh tranh giữa các ngành

2. PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG

3. PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐH CHU VĂN AN KHOA KT & QTKD --- o0o --- CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may Sông Hồng Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Hằng Khoa: Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh Phú Thọ, ngày 10 tháng 04 năm 2011 SVTH: Nguyễn Thị Hương 1 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An LỜI MỞ ĐẦU Chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trƣờng là một bƣớc ngoặt lớn có tính chất cơ bản để nền kinh tế nƣớc ta có thể đứng vững và phát triển kịp với nền kinh tế thế giới và khu vực. Sự chuyển đổi này đã kéo theo sự chuyển hƣớng trong việc lập kế hoạch, chiến lƣợc kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Cơ chế mới này đã mở ra một thời kỳ mới đầy cơ hội phát triển nhƣng cũng nhiều thách thức lớn đối với các thành phần kinh tế cũng nhƣ các doanh nghiệp ở Việt Nam. Hoạt động trong cơ chế thị trƣờng mọi doanh nghiệp phải tự thân vận động, tự quyết định mọi vấn đề về kinh doanh của mình, không có sự phân công chỉ đạo trực tiếp nhƣ trong cơ chế cũ, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải có tính linh hoạt cao. Chính vì sự sống còn và phát triển của mỗi doanh nghiệp mà đã có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau. Cạnh tranh từ đó đã ra đời, góp phần giúp cho các doanh nghiệp khẳng định đƣợc sức mạnh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Ngƣợc lại, đó cũng là yếu tố loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, không có sức cạnh tranh. Khi nền kinh tế càng phát triển, các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng, số lƣợng các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều SVTH: Nguyễn Thị Hương 2 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An thì cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mỗi doanh nghiệp để đảm bảo cho sự tồn tại của mình đã đƣa ra những chiến lƣợc cạnh tranh táo bạo nhằm không ngừng tăng cƣờng khả năng cạnh tranh cho mình. Mặt khác, các doanh nghiệp không bao giờ tự thỏa mãn với thị trƣờng chiếm lĩnh đƣợc (điều này rất nguy hiểm, có thể sẽ kéo theo sự diệt vong của doanh nghiệp) nên luôn tìm cách vƣơn lên, mở rộng thị trƣờng. Và vì vậy, cần phải xây dựng một chiến lƣợc cạnh tranh với những công cụ, biện pháp thích hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Xuất phát từ tầm quan trọng của cạnh tranh đối với mỗi doanh nghiệp, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần may Sông Hồng, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may Sông Hồng” làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chuyên đề được kết cấu chia làm 3 phần: Phần I: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Phần II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may Sông Hồng. Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may Sông Hồng. SVTH: Nguyễn Thị Hương 3 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP I- Lý thuyết cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng Việt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau. Theo Mác: “Cạnh tranh là sự phấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt đƣợc những lợi nhuận siêu ngạch ”. Có quan niệm khác lại cho rằng: “Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác”. Theo kinh tế chính trị học: “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trƣờng, khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Để hiểu một cách khái quát nhất ta có khái niệm nhƣ sau: Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trƣờng nhằm giành đƣợc ƣu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Từ khi nƣớc ta thực hiện đƣờng lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung snag nền kinh tế thị trƣờng có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng bƣớc đi của các doanh nghiệp. Môi trƣờng hoạt động kinh doanh của doanh SVTH: Nguyễn Thị Hương 4 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An nghiệp lúc này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị trƣờng trong nƣớc và thị trƣờng quốc tế. Nhƣ vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con ngƣời cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh. Ví dụ nhƣ: Các quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi. Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía mình, để chiếm lĩnh những thị trƣờng có nhiều lợi thế. Con ngƣời cạnh tranh nhau để vƣơn lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ để những ngƣời dƣới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế trong quan hệ với các đối tác. Nhƣ vậy có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội. Điều này xuất phát từ một lẽ đƣơng nhiên nƣớc ta đã và đang bƣớc vào giai đoạn phát triển cao về mọi lĩnh vực nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa…Mà bên cạnh đó cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trƣờng, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi ngƣời bởi tự do là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lƣu thông hàng hóa phát triển. Bởi vậy để giành đƣợc các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên động não, tích cực, nhạy bén và năng động, phải thƣờng xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu. Và điều quan trọng là phải có phƣơng pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho ngƣời lao động. Thực SVTH: Nguyễn Thị Hương 5 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An tế cho thấy, ở đâu thiếu sự cạnh tranh thƣờng ở đó biểu hiện sự trì trệ và yếu kém, sẽ dẫn đến doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh tế thị trƣờng. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trƣờng, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lƣợng sản phẩm và chất lƣợng dịch vụ, làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ ngu cầu xã hội đƣợc tốt hơn. Cạnh tranh là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển. Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu cực. Đó là sự phân hóa sản xuất hàng hóa, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp những rủi ro khách quan mang lại nhƣ thiên tai, hỏa hoạn…hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi. Nhƣ vậy, cạnh tranh đƣợc hiểu và đƣợc khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trƣờng với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tƣơng tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận.Các doanh nghiệp thƣơng mại cần nhận thức đúng đắn về cạnh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực, nâng cao chất lƣợng phục vụ khách hàng, mặt khác tránh tình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng nhƣ làm suy yếu chính mình. SVTH: Nguyễn Thị Hương 6 Lớp: 07K3C LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An Doanh nghiệp thƣơng mại mang tính đặc thù phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trƣớc đây, phạm trù cạnh tranh hầu nhƣ không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầu nhƣ đã đƣợc nhà nƣớc bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về Nhà nƣớc. Vì vậy, vô hình dung Nhà nƣớc đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỉ nại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp. Chính điều đó đã không tạo đƣợc động lực cho doanh nghiệp phát triển. Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nƣớc ta đã chuyển sang một giai đoạn mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ