Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về Văn hóa và Văn hóa tổ chức. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Chương 4: Thực trang văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến KQKD tại Agribank Bến Tre giai đoạn 2010 – 2014.
Chương 5: Các giải pháp hoàn thiện VHTC nhằm nâng cao KQKD tại Agribank Bến Tre giai đoạn 2015 – 2020. Kết luận Tài liệu kham khảo 4 CHƯƠNG 2 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về văn hóa. Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi mặt cuộc sống con người do vậy có nhiều cách hiểu.
Trong cuộc sống hàng ngày văn hóa thường được hiểu là văn học, thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, phim ảnh. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ăn mặc, ăn uống, cư xử và cả đức tín, tri thức được tiếp nhận.Văn hóa được xem như một lĩnh vực đặc biệt của đời sống xã hội. Nó là trung tâm định hướng giá trị và điều tiết mọi hoạt động của con người, đồng thời còn là quá trình nhân hóa chính bản thân con người trong đời sống xã hội. Ngày nay, có hàng trăm cách tiếp cận về văn hóa trên các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.Heriôt thì “cái gì còn lại khi tất cả những cái khác quên đi – cái đó là văn hóa”. Theo nhà xã hội học Herskovist trong cuốn “Man and this work” cho rằng“ văn hóa là lối sống của một tập đoàn người và xã hội là tập thể được tổ chức bởi cá nhân tuân theo lối sống đó. Nói rõ hơn thì xã hội là tổ chức của con người, còn những hoạt động của họ là văn hóa”. Dobrianốp một nhà xã hội học Mácxít, người Bungari cũng nhận định rằng: Bất cứ xã hội nào cũng tồn tại bởi ba yếu tố hợp thành nên hệ tương tác xã hội, đó là hoạt động xã hội - chủ thể xã hội - quan hệ xã hội.
Những hoạt động xã hội cơ bản là: Hoạt động tái sinh ra loài - Hoạt động sản xuất vật chất - Hoạt động sản xuất tinh thần - Hoạt động giao tiếp - Hoạt động điều tiết (quản lý) Chủ thể xã hội gồm: Cá nhân - Nhóm - Thể chế xã hội - Xã hội tổng thể. Quan hệ xã hội gồm có: Quan hệ sản xuất - Quan hệ tiêu dùng - Quan hệ trao đổi - Quan hệ phân tích. Văn hóa là sự kế thừa từ các kinh nghiệm và niềm tinh được đúc kết từ cuộc sống (Sapir,1911). Văn hóa là tổng hợp giá trị của hành động suy nghĩ, quá khứ và hiện tại của một xã hội.
Nó là sự tổng hợp cả các truyền thống, thủ tục, phương 5 pháp được kế thừa ( Bogardus, 1934). Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi, vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo (Kroeber và Kluckhohn, 1952). Năm 2002, UNESCO đã đưa ra khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Có thể thấy khái niệm văn hóa của UNESCO (2002) bao hàm đầy đủ ý nghĩa nhất: văn hóa bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần, có tính kế thừa từ lịch sử, chủ thể là con người và các mối quan hệ, là những qui tắc, giá trị, quan điểm chung được xã hội thừa nhận.
Do đó khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội chúng ta có thể lựa chọn ra bốn cách tiếp cận chủ yếu sau, đó là : tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học. Cả bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc thực tiễn… Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Mỗi định nghĩa đều có điểm mạnh, điểm yếu của nó.
Có thể nó chỉ đề cập đến một khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh kia của khái niệm văn hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn định nghĩa cho phù hợp, để qua định nghĩa nó sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu và làm cho việc nghiên cứu thuận lợi và có hiệu quả hơn. Nhưng dù định nghĩa có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì bao giờ nó cũng có điểm chung đó là: văn hóa là cái do con người tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc 6 về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản, phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên (Trần Ngọc Thêm, 2009). Khái niệm Văn hóa tổ chức Khái niệm VHTC thường được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi nhiều nhà nghiên cứu.Tuy nhiên, VHTC là động lực thúc đẩy hành vi của nhân viên và là tài sản vô hình của tổ chức (Lismen, Chan, Margaret, Shaffer, v. VHTC rất khó sao chép, bắt chước do tính đặc thù phức tạp tính tế nhị, và khéo léo của văn hóa. Có thể xem xét một số định nghĩa của một vài tác giả tiêu biểu sau.
Tác giả Luthans (1992) định nghĩa VHTC bao gồm các chuẩn mực đạo đức, hệ thống giá trị niềm tin và bầu không khí tại môi trường làm việc của tổ chức. Theo quan điểm của Schein (1992) văn hóa là một hình thức của các giả thuyết cơ bản – được phát minh, khám phá, phát triển bởi một nhóm khi họ học cách đối phó với các vấn đề liên quan đến việc thích nghi với bên ngoài và hội nhập với bên trong – đã phát huy tác dụng và được coi như có hiệu lực và do đó được truyền đạt cho các thành viên mới thực hiện theo. Còn hai tác giả Recado và Jolloy (1997), khi nói đến VHTC, người ta thường nói về hệ thống giá trị và niềm tin đã được hiểu và chia sẻ bởi các thành viên trong một tổ chức. VHTC có thể giúp định hình và xác định các hành vi ứng xử của các thành viên và các chính sách tổ chức.
Văn hóa thể hiện trình độ nhận thức của một tổ chức – có nghĩa là chúng chứa đựng những phẩm chất đặc thù có thể sử dụng để phân biệt với các tổ chức khác về một phương diện nào đó (Gold, 1982). VHTC là kết quả từ kinh nghiệm của nhóm và nó âm thầm ảnh hưởng một cách sâu sắc. VHTC bao gồm những gì có giá trị, sự chi phối của phong cách lãnh đạo, ngôn ngữ và các ký hiệu, các quy trình và thói quen, các khái niệm về thành công đặc trưng cho tổ chức (Schein, 2004). Tóm lại, các khái niệm VHTC mà các nhà nghiên cứu đưa ra có các đặc tính: Giải thích theo bản chất các mối quan hệ giữa con người: xem cá nhân như là thành phần của tổ chức, tổ chức như một phần của xã hội.
7 Các khái niệm liên quan đến kiểm soát hành vi: các chuẩn mực, kinh nghiệm, quy tắc ngầm, quy định buộc các thành viên phải tuân theo. Hệ thống các giá trị, niềm tin, cách nhận thức, phương pháp tư duy được thừa hưởng từ lịch sử và được tổ chức thừa nhận. Những nét đặc trưng của tổ chức. VHTC là yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, là yếu tố giúp tổ chức thích nghi với môi trường.
Cấu trúc VHTC Theo Schien (2004), VHTC chia làm ba mức độ (level) khác nhau dựa trên mức độ cảm nhận các giá trị văn hóa trong tổ chức theo sơ đồ sau: Những quá trình và cấu trúc Mức độ thứ nhất hữu hình của doanh nghiệp (Artifacts) Mức độ thứ hai Những giá trị được chấp nhận ( Espoused Values) Những quan niện chung Mức độ thứ ba (Basic Underlying Assumptions) Hình 2. Mức độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của tổ chức: Bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn thấy, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với tổ chức có nền văn hóa xa lạ như: - Kiến trúc, cách bày trí, công nghệ, sản phẩm. - Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp. - Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp.
- Lễ nghi và lễ hội hàng năm. - Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp. 8 - Ngôn ngữ, cách ăn mặc, phương tiện đi lại, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên các nhóm làm việc trong doanh nghiệp. - Những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức.
- Hình thức mẫu mã sản phẩm. - Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp. Đây là cấp độ văn hóa có thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất là các yếu tố vật chất như: kiến trúc, bài trí, đồng phục,… Cấp văn hóa này có đặc điểm chung là ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của doanh nghiệp, quan điểm của người lãnh đạo… Tuy nhiên, cấp độ văn hóa này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong VHTC. Mức độ thứ hai (Espoused Values): Bao gồm những giá trị được tuyên bố là những quy định, triết lý, mục tiêu chiến lược và những mục tiêu riêng của doanh nghiệp, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và được doanh nghiệp công bố rộng rãi ra công chúng.
Những giá trị được công bố cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và và diễn đạt chúng một cách rõ ràng chính xác.