Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch tỉnh Phú Thọ ghi nhận mức tăng trưởng nhanh chóng về quy mô du khách khi lượng khách tham quan tăng từ 4,0 triệu lượt vào năm 2008 lên 6,1 triệu lượt vào năm 2012, đạt tốc độ tăng trưởng 52,5%. Tuy nhiên, cơ cấu lượng khách lại bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi lượng khách quốc tế năm 2012 chỉ đạt 4.100 lượt, chiếm chưa đầy 0,07% tổng lượt khách, trong khi lượng khách lưu trú chỉ đạt 545.675 lượt. Mức chi tiêu trung bình của du khách tại địa phương duy trì ở ngưỡng rất thấp, khoảng 100.000 đồng đối với khách tham quan trong ngày và 250.000 đồng đối với khách lưu trú, thấp hơn mặt bằng chung của cả nước từ 400.000 đến 600.000 đồng. Thực trạng này bắt nguồn từ việc sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ và công tác xúc tiến đầu tư chưa mang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết điểm nghẽn trong công tác thu hút nguồn lực phát triển du lịch. Mặc dù mỗi năm toàn tỉnh thu hút khoảng 50 dự án đầu tư trên mọi lĩnh vực, số dự án đầu tư trực tiếp vào du lịch chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn từ 2 đến 3 dự án mỗi năm. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về xúc tiến đầu tư du lịch, đánh giá toàn diện thực trạng triển khai hoạt động này tại Phú Thọ giai đoạn 2008 – 2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao nhằm đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2013 – 2017 và định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nâng cao công suất sử dụng buồng phòng từ mức 45% năm 2012 lên các mức cao hơn, gia tăng doanh thu toàn ngành vượt mốc 1.414 tỷ đồng và từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng tổng hợp lý thuyết marketing địa phương và lý thuyết xúc tiến đầu tư hiện đại nhằm xây dựng mô hình phân tích gồm 8 nội dung cốt lõi của hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch. Tám nội dung này bao gồm: xác định mục tiêu xúc tiến, xác định chủ thể thực hiện, xác định đối tượng tiếp nhận, thiết kế thông điệp truyền thông, lựa chọn công cụ xúc tiến, hoạch định ngân quỹ, lập chương trình hành động và đánh giá kết quả điều chỉnh. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư và xúc tiến đầu tư du lịch. Trong đó, xúc tiến đầu tư du lịch được định nghĩa là việc vận dụng các công cụ chuyên biệt nhằm tác động vào các nhà đầu tư tiềm năng, thúc đẩy giải ngân vốn vào hạ tầng và dịch vụ du lịch.

Hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch được tiếp cận dưới hai góc độ tương hỗ là xúc tiến hữu hình và xúc tiến vô hình. Xúc tiến hữu hình hướng đến việc thu hút vốn phát triển hệ thống 202 cơ sở lưu trú với 2.448 buồng phòng, hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và các khu vui chơi giải trí. Xúc tiến vô hình tập trung vào nâng cao năng lực quản trị, đào tạo lực lượng lao động ngành du lịch vượt mốc 9.000 người và xây dựng thương hiệu điểm đến an toàn, hấp dẫn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Phú Thọ trong chuỗi thời gian 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012. Để đảm bảo độ sâu về mặt dữ liệu, tác giả thực hiện 26 cuộc phỏng vấn chuyên sâu với các đối tượng đại diện chủ thể quản lý nhà nước, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp đầu tư và cộng đồng dân cư địa phương.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn chính xác các chuyên gia có từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm quản lý và các nhà đầu tư trực tiếp tham gia dự án du lịch trên địa bàn. Lý do lựa chọn phương pháp định tính phỏng vấn chuyên sâu thay cho điều tra diện rộng bằng bảng hỏi là vì hoạt động quản lý xúc tiến đầu tư đòi hỏi những đánh giá chuyên môn sâu sắc về cơ chế chính sách, tính minh bạch và rào cản hành chính. Cuối cùng, phương pháp phân tích hệ thống được ứng dụng để tích hợp toàn bộ nguồn dữ liệu định lượng và định tính, thiết lập luận cứ vững chắc cho các đề xuất giải pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch tăng trưởng nhanh nhưng giá trị kinh tế thu được còn hạn chế. Trong giai đoạn 2008 – 2012, tổng lượt khách đến Phú Thọ tăng từ 4,0 triệu lên 6,1 triệu lượt, tuy nhiên lượng khách quốc tế năm 2012 chỉ chiếm 4.100 lượt và khách lưu trú chỉ đạt 545.675 lượt, tương đương 8,9% tổng lượng khách. Doanh thu toàn ngành du lịch năm 2012 đạt 1.414 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ dịch vụ lưu trú chỉ đóng góp 127 tỷ đồng, chiếm khoảng 8,98% tổng nguồn thu.

Thứ hai, kết quả thu hút dự án đầu tư du lịch còn rất khiêm tốn. Trong khi toàn tỉnh Phú Thọ thu hút trung bình khoảng 50 dự án đầu tư mỗi năm giai đoạn 2008 – 2012, số lượng dự án thuộc lĩnh vực du lịch chỉ đạt 2 đến 3 dự án mỗi năm, chiếm tỷ lệ dưới 6%. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch hầu như chưa có sự bứt phá đáng kể, trong đó năm 2009 toàn tỉnh chỉ thu hút được 5 dự án FDI trên tất cả các ngành do tác động của suy thoái kinh tế.

Thứ ba, hệ thống cơ sở lưu trú gia tăng về số lượng nhưng quy mô nhỏ lẻ. Tính đến năm 2012, toàn tỉnh có 202 cơ sở lưu trú với 2.448 buồng, gồm 29 khách sạn và 173 nhà nghỉ. Mặc dù số lượng cơ sở lưu trú tăng 65,5% so với 122 cơ sở năm 2008, công suất sử dụng buồng bình quân năm 2012 chỉ đạt gần 45%, phản ánh tình trạng dư thừa công suất ngoài mùa lễ hội.

Thứ tư, công tác phân bổ ngân sách xúc tiến còn thiếu tính bền vững. Ngân quỹ xúc tiến đầu tư năm 2012 chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cấp phát hành chính từ ngân sách nhà nước, chưa có cơ chế trích lập quỹ từ nguồn vốn xã hội hóa hoặc tái đầu tư từ doanh thu của các dự án đã đi vào vận hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ tính mùa vụ đậm nét của du lịch Phú Thọ, tập trung chủ yếu vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương tháng 3 âm lịch, trong khi các khoảng thời gian còn lại trong năm thiếu vắng các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng và giải trí đặc sắc. Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như Vườn quốc gia Xuân Sơn cách trung tâm Việt Trì 80 km hay nguồn khoáng nóng Thanh Thủy quy mô 3 km2 với nhiệt độ 37 đến 40 độ C vẫn chưa được đầu tư khai thác đúng tầm.

Khi so sánh với các nghiên cứu về xúc tiến đầu tư tại các tỉnh vùng trung du Bắc Bộ, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương đồng về rào cản hành chính và thiếu tính nhất quán trong thông điệp xúc tiến. Để minh họa rõ nét các phát hiện, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa khách nội địa và khách quốc tế giai đoạn 2008 – 2012, kết hợp cùng bảng ma trận so sánh các chỉ số thành phần trong Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Phú Thọ. Việc lượng hóa này chứng minh rằng nâng cao tính chuyên nghiệp trong xúc tiến đầu tư là yêu cầu sống còn để chuyển hóa tiềm năng 1.372 di tích văn hóa thành nguồn lực kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách triệt để thủ tục hành chính và vận hành hiệu quả cơ chế một cửa liên thông. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tinh gọn quy trình thẩm định, giảm ít nhất 30% thời gian xử lý hồ sơ cấp phép dự án du lịch trong giai đoạn 2013 – 2015, phấn đấu nâng tỷ lệ dự án triển khai đúng tiến độ cam kết đạt trên 85%.

Thứ hai, tập trung xúc tiến đầu tư có trọng điểm vào 4 cụm không gian tài nguyên du lịch then chốt. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Phú Thọ cần xây dựng danh mục 10 dự án ưu tiên giai đoạn 2013 – 2017, tập trung vào Khu di tích lịch sử Đền Hùng cách Việt Trì 7 km, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Khu nghỉ dưỡng khoáng nóng Thanh Thủy và Đầm Ao Châu cách Việt Trì 60 km. Mục tiêu thu hút tối thiểu 5 dự án nghỉ dưỡng cao cấp đạt tiêu chuẩn 3 đến 5 sao trước năm 2020.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ xúc tiến. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng xúc tiến đầu tư quốc tế và ngoại ngữ cho 100% cán bộ làm công tác xúc tiến tại các sở, ban ngành trong giai đoạn 2013 – 2016, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực.

Thứ tư, đa dạng hóa công cụ truyền thông và xây dựng thông điệp xúc tiến nhất quán. Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu dự án đầu tư du lịch, phát hành các ấn phẩm đa ngữ trước năm 2015, nhằm nâng mức chi tiêu bình quân của du khách lên trên 500.000 đồng/ngày và nâng công suất sử dụng buồng phòng toàn tỉnh đạt trên 60% vào năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ. Nhóm này có thể áp dụng mô hình 8 bước xúc tiến và hệ thống giải pháp để tái cấu trúc quy trình tiếp nhận dự án, tối ưu hóa nguồn ngân sách xúc tiến đầu tư hàng năm.

Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế quan tâm đến lĩnh vực bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng. Báo cáo cung cấp bức tranh toàn cảnh về 1.372 di tích lịch sử cùng tiềm năng mỏ khoáng nóng 3 km2 tại Thanh Thủy, giúp các nhà đầu tư đánh giá chính xác tính khả thi tài chính và vị trí chiến lược trước khi ra quyết định đầu tư vốn.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Kinh tế phát triển và Quản trị dịch vụ lữ hành. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hệ thống 26 cuộc phỏng vấn chuyên sâu cùng chuỗi dữ liệu thực chứng kéo dài 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp lữ hành và tổ chức hiệp hội du lịch địa phương. Các đơn vị này có thể khai thác định hướng không gian phát triển du lịch của tỉnh để liên kết tour tuyến, gia tăng tỷ lệ khách lưu trú vượt qua ngưỡng 545.675 lượt khách hiện tại.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến doanh thu lưu trú tại Phú Thọ chỉ đạt 127 tỷ đồng trên tổng 1.414 tỷ đồng doanh thu năm 2012 là gì? Tỷ lệ khách lưu trú chỉ đạt 545.675 lượt trên tổng số 6,1 triệu lượt khách đến tỉnh, kết hợp với thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu thấp khoảng 250.000 đồng/ngày khiến tỷ trọng nguồn thu lưu trú chỉ chiếm 8,98%.

Quy mô cơ sở lưu trú của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn nghiên cứu 2008 – 2012 thay đổi ra sao? Số lượng cơ sở lưu trú tăng từ 122 cơ sở năm 2008 lên 202 cơ sở năm 2012 với 2.448 buồng, tuy nhiên phần lớn là 173 nhà nghỉ quy mô nhỏ và công suất phòng bình quân chỉ đạt 45%.

Tại sao luận văn chọn cỡ mẫu 26 cuộc phỏng vấn chuyên sâu thay vì khảo sát diện rộng? Nghiên cứu về quản lý nhà nước và xúc tiến đầu tư đòi hỏi những góc nhìn chuyên môn sâu về cơ chế chính sách từ 26 đại diện cơ quan quản lý, nhà đầu tư và chuyên gia đầu ngành.

Đâu là các tài nguyên tự nhiên trọng điểm cần ưu tiên mời gọi vốn đầu tư tại Phú Thọ? Khu khoáng nóng Thanh Thủy với diện tích 3 km2 nhiệt độ 37 đến 40 độ C, Vườn quốc gia Xuân Sơn cách Việt Trì 80 km và Đầm Ao Châu là các điểm đến trọng điểm cần xúc tiến.

Luận văn đề xuất mục tiêu gì cho giai đoạn 2013 – 2017 nhằm cải thiện hiệu quả xúc tiến du lịch? Nghiên cứu đề xuất cắt giảm 30% thời gian xử lý thủ tục cấp phép, thu hút tối thiểu 5 dự án du lịch quy mô lớn và nâng công suất sử dụng buồng phòng lên trên 60%.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng du lịch Phú Thọ giai đoạn 2008 – 2012, chỉ rõ sự đối lập giữa lượng khách 6,1 triệu lượt và lượng khách quốc tế khiêm tốn 4.100 lượt.
  • Hệ thống hóa khung lý thuyết với 8 nội dung xúc tiến đầu tư, chỉ ra điểm nghẽn khi mỗi năm toàn tỉnh chỉ thu hút được 2 đến 3 dự án đầu tư du lịch trên tổng số 50 dự án.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng phong phú thông qua 26 cuộc phỏng vấn chuyên sâu và đánh giá chi tiết 202 cơ sở lưu trú trên toàn địa bàn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược cho giai đoạn 2013 – 2017, hướng tới mục tiêu nâng công suất buồng phòng vượt mức 45% và gia tăng chi tiêu bình quân của du khách.
  • Khuyến nghị các cấp lãnh đạo địa phương cùng cộng đồng doanh nghiệp khẩn trương phối hợp hành động, triển khai đồng bộ các giải pháp xúc tiến để đưa du lịch đất Tổ phát triển bền vững.