Tổng quan nghiên cứu

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 17,68% và cơ cấu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm tới 67,3%, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đang trải qua quá trình đô thị hóa và chuyển dịch kinh tế nhanh chóng. Sự phát triển mạnh mẽ của 188 dự án đầu tư cùng quy mô dân số 84.691 người kéo theo lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh gia tăng không ngừng, đạt khoảng 42,3 tấn/ngày. Tuy nhiên, năng lực thu gom của toàn huyện mới chỉ đạt khoảng 29,1 tấn/ngày, tương ứng tỷ lệ thu gom trung bình 68%, dẫn tới tình trạng ứ đọng rác thải nghiêm trọng tại các khu dân cư và đe dọa trực tiếp các tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng cơ chế quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương còn manh mún, chắp vá và thiếu đồng bộ. Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải phần lớn mang tính tự phát, trang thiết bị thô sơ, chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vệ sinh môi trường. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, mạng lưới thu gom, cơ cấu tổ chức quản lý và công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Mỹ Hào; trên cơ sở đó đề xuất mô hình thu gom, xử lý thí điểm phù hợp và các nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường nông thôn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 13 đơn vị hành chính của huyện Mỹ Hào, trong đó tiến hành điều tra thực địa chuyên sâu tại 3 địa bàn đại diện dọc tuyến Quốc lộ 5 từ Tây sang Đông gồm thị trấn Bần Yên Nhân, xã Dị Sử và xã Ngọc Lâm trong giai đoạn từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015. Về ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác để nâng tỷ lệ thu gom rác toàn huyện lên trên 85%, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt sông Kim Sơn và sông Bần - Vũ Xá, đồng thời hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện quy hoạch quản lý chất thải rắn đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM) kết hợp lý thuyết Phát triển bền vững và mô hình kinh tế tuần hoàn trong bảo vệ môi trường. Khung lý thuyết ISWM tiếp cận chất thải như một dòng tài nguyên thứ cấp, nhấn mạnh việc phối hợp đồng bộ giữa các khâu phân loại tại nguồn, tái sinh, tái chế, thu hồi năng lượng và chôn lấp an toàn, thay vì chỉ tập trung xử lý cuối đường ống.

Luận văn chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi theo tinh thần Nghị định số 59/2007/NĐ-CP và Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn theo Quyết định số 2149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:

  • Chất thải rắn sinh hoạt: Các chất thải ở thể rắn phát sinh từ sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, khu thương mại và nơi công cộng.
  • Quản lý tổng hợp chất thải rắn: Toàn bộ chuỗi quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, phân loại tại nguồn, lưu giữ, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải nhằm ngăn ngừa suy thoái môi trường.
  • Bãi chôn lấp hợp vệ sinh: Công trình kỹ thuật được thiết kế chuẩn mực có hệ thống lót đáy chống thấm, thu gom và xử lý nước rỉ rác, kiểm soát khí bãi rác theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
  • Chỉ số phát sinh chất thải bình quân đầu người: Lượng rác tính bằng kilôgam do một người thải ra trong một ngày đêm (kg/người/ngày).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Hào, Công ty Môi trường Đô thị và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; cùng dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa.

Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 90 hộ gia đình, được chia đều cho 3 địa phương trọng điểm (30 hộ tại thị trấn Bần Yên Nhân, 30 hộ tại xã Dị Sử, 30 hộ tại xã Ngọc Lâm). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng dựa trên đặc thù phân bố không gian dọc Quốc lộ 5, mật độ dân cư và cơ cấu ngành nghề (nông nghiệp, dịch vụ buôn bán, tiểu thủ công nghiệp và công nhân khu công nghiệp). Bên cạnh đó, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 3 cán bộ phụ trách địa chính - môi trường cấp xã và 3 tổ đội thu gom rác trực tiếp tại các thôn Phúc Bố, Vô Ngại, Ngọc Lãng.

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp cân đo khối lượng thực tế định kỳ 3 lần (với chu kỳ tích lũy 2 ngày/lần) được sử dụng để phân tích dữ liệu qua phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm khắc phục sự thiếu hụt trạm quan trắc định lượng tại vùng nông thôn, bảo đảm tính xác thực, khách quan và phản ánh đúng tập quán xả thải của người dân. Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực nghiệm được triển khai từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh toàn huyện ước tính đạt 42,3 tấn/ngày, nhưng năng lực thu gom mới đạt 29,1 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 68%. Tỷ lệ thu gom phân hóa rất mạnh giữa các địa bàn: thị trấn Bần Yên Nhân và xã Ngọc Lâm đạt 80%, xã Dương Quang đạt 83%, trong khi xã Dị Sử chỉ đạt 53% và xã Xuân Dục chỉ đạt 51%. Toàn huyện có 6/13 xã đạt tỷ lệ thu gom dưới 65%, khiến khoảng 13,2 tấn rác thải mỗi ngày bị xả tự do ra các bãi rác tự phát, ven kênh mương hoặc tự tiêu hủy tại vườn nhà.

Thứ hai, thành phần chất thải rắn nông thôn huyện Mỹ Hào mang tính đặc thù cao với 29,0% chất hữu cơ; 35,25% đất cát và tạp chất; 17,0% cao su, chất dẻo, túi nilon; 12,0% gạch đá; 4,05% thủy tinh và 2,7% kim loại. So sánh với rác thải đô thị Hưng Yên (chất hữu cơ chiếm 51%, nilon chiếm 8%), rác nông thôn Mỹ Hào chứa tỷ lệ chất vô cơ và phế thải nhựa cao bất thường, phản ánh tốc độ chuyển đổi lối sống và ảnh hưởng từ các làng nghề, cụm công nghiệp trên địa bàn.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng thu gom và công nghệ xử lý rất lạc hậu. Phương tiện thu gom chủ yếu là xe ngựa kéo tự chế hoặc xe đẩy tay thủ công, công nhân thiếu trang bị bảo hộ đạt chuẩn. Toàn bộ 13 xã, thị trấn chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh; rác thu gom được đổ dồn lộ thiên và đốt thủ công (như bãi rác thôn Nho Lâm - xã Dị Sử, bãi rác thôn Phúc Bố - xã Ngọc Lâm), gây phát sinh khói độc hại và nước rỉ rác ngấm thẳng vào nguồn nước ngầm.

Thứ tư, cơ cấu tổ chức và nhân lực quản lý môi trường mỏng, thiếu chuyên môn. Cấp huyện chỉ có 01 cán bộ phụ trách tại Phòng Tài nguyên và Môi trường. Tại 13 xã, thị trấn, 100% cán bộ làm công tác môi trường đều là cán bộ địa chính kiêm nhiệm, chủ yếu có chuyên môn trung cấp hoặc đại học tại chức ngành quản lý đất đai, chưa từng qua đào tạo bài bản về kỹ thuật môi trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do cơ chế quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế xã hội. Nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường cấp cho các xã còn hạn hẹp; mức phí thu gom từ hộ dân chỉ khoảng vài nghìn đồng mỗi tháng, chỉ bù đắp được khoảng 10% đến 15% chi phí vận chuyển thực tế. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt hợp tác xã môi trường chuyên trách khiến các tổ tự quản thôn xóm hoạt động cầm chừng, tần suất thu gom thưa thớt (2 ngày/lần), dẫn đến ứ đọng rác.

So sánh với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng sông Hồng, chỉ số phát sinh rác bình quân tại các hộ gia đình khảo sát ở xã Ngọc Lâm dao động từ 0,20 đến 1,78 kg/người/ngày, trong đó các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống và tiểu thủ công nghiệp có lượng phát thải cao gấp 3-5 lần hộ thuần nông. Thị trấn Bần Yên Nhân ghi nhận mức phát sinh 0,77 kg/người/ngày, cao hơn nhiều so với mức trung bình 0,40 kg/người/ngày của khu vực nông thôn cả nước và tiệm cận mức phát sinh 0,80 - 1,00 kg/người/ngày của các đô thị loại 3 và loại 4.

Các phát hiện về khối lượng và thành phần rác thải có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh lượng phát sinh và thu gom tại 13 xã, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ 29,0% rác hữu cơ và 17,0% túi nilon. Bảng số liệu đối chiếu này minh chứng rằng nếu không áp dụng quy trình phân loại rác hữu cơ để ủ phân vi sinh tại chỗ, các bãi chôn lấp tạm sẽ hoàn toàn quá tải trước năm 2020.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và cơ cấu giá dịch vụ thu gom rác. Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Hào phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường xây dựng biểu giá thu phí dịch vụ vệ sinh môi trường mới dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, phân định rõ mức phí cho hộ nông nghiệp, hộ kinh doanh ăn uống và xưởng sản xuất nhỏ. Mục tiêu nâng tỷ lệ tự trang trải chi phí vận hành lên 50-60%, hoàn thành ban hành trong giai đoạn 2016-2018.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy quản lý và nâng cao năng lực nhân sự môi trường cơ sở. Ủy ban nhân dân các xã và thị trấn tiến hành bãi bỏ cơ chế kiêm nhiệm thuần túy, bố trí ít nhất 01 biên chế chuyên trách môi trường có trình độ đại học chuyên ngành tại mỗi xã; đồng thời chuyển đổi 100% các tổ thu gom tự quản thôn xóm thành các Hợp tác xã dịch vụ môi trường hoạt động theo Luật Hợp tác xã trước năm 2018.

Thứ ba, triển khai mô hình thí điểm thu gom và xử lý chất thải rắn khép kín tại xã Ngọc Lâm. Ủy ban nhân dân xã Ngọc Lâm làm chủ đầu tư xây dựng bãi xử lý tập trung quy mô 0,5 ha kết hợp lắp đặt hệ thống lò đốt rác chuyên dụng công nghệ LOSIHO và máy nghiền phân loại công suất 3-5 tấn/ngày. Mô hình hướng tới nâng tỷ lệ thu gom rác của xã lên 95%, giảm tỷ lệ rác chôn lấp trực tiếp xuống dưới 15%, hoàn thành nghiệm thu đưa vào vận hành trước quý IV năm 2018.

Thứ tư, hiện đại hóa trang thiết bị thu gom và xử lý dứt điểm các bãi rác tự phát. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên hỗ trợ kinh phí xóa bỏ toàn bộ xe ngựa kéo tự chế, thay thế bằng xe gom đẩy tay tiêu chuẩn và xe tải ép rác chuyên dùng; đồng thời thực hiện đóng cửa, xử lý tiêu hủy và phủ đất khử mùi đạt chuẩn vệ sinh tại các bãi rác gây ô nhiễm nghiêm trọng ở xã Dị Sử và thôn Phúc Bố trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1 - Cán bộ quản lý Nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện đồng bằng sông Hồng: Sử dụng kết quả phân tích hiện trạng và khung dự báo khối lượng phát thải đến năm 2020 để hoạch định quy hoạch hạ tầng xử lý chất thải rắn liên xã, xây dựng các tiêu chí bảo vệ môi trường trong đề án nông thôn mới nâng cao.

Nhóm 2 - Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, thị trấn và Ban Giám đốc các Hợp tác xã dịch vụ môi trường: Tham khảo quy trình tổ chức bộ máy thu gom, bảng dự toán kinh phí nhân công hàng năm và phương án vận hành lò đốt LOSIHO để áp dụng trực tiếp cho địa phương mình nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nhóm 3 - Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai, Phát triển Bền vững: Khai thác tài liệu như một nghiên cứu điển hình chuẩn mực về áp dụng phương pháp PRA và kỹ thuật lấy mẫu phân tầng trong đánh giá môi trường nông thôn chuyển đổi.

Nhóm 4 - Các doanh nghiệp, kỹ sư công nghệ và đơn vị tư vấn môi trường: Tiếp cận số liệu chi tiết về thành phần cơ lý hóa của rác thải nông thôn (tỷ lệ hữu cơ 29,0%, nilon 17,0%) để tối ưu hóa thiết kế lò đốt chất thải quy mô nhỏ, máy nghiền rác và quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh phù hợp với đặc tính rác thải chưa phân loại tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đặc điểm phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Mỹ Hào có gì khác biệt so với các vùng nông thôn truyền thống? Khác với nông thôn thuần nông có rác thải chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy, Mỹ Hào chịu tác động mạnh từ 188 dự án công nghiệp và quá trình đô thị hóa dọc Quốc lộ 5. Lượng phát sinh đạt khoảng 42,3 tấn/ngày với tỷ lệ cao su, chất dẻo, túi nilon chiếm tới 17,0% và mức phát thải cá biệt tại thị trấn Bần Yên Nhân lên tới 0,77 kg/người/ngày.

  2. Vì sao phương pháp đốt rác lộ thiên tại các bãi rác tạm ở các xã cần phải chấm dứt ngay? Đốt rác thủ công lộ thiên ở nhiệt độ thấp làm phát sinh lượng lớn khí độc hại như Dioxin, Furan và tro bụi mịn, gây ô nhiễm không khí cục bộ nghiêm trọng. Nước rỉ rác không được thu gom tiếp tục thẩm thấu trực tiếp làm ô nhiễm tầng nước ngầm và hệ thống kênh mương tưới tiêu thủy nông.

  3. Mô hình xử lý chất thải thí điểm đề xuất cho xã Ngọc Lâm áp dụng công nghệ gì? Mô hình tại xã Ngọc Lâm tích hợp quy trình phân loại rác tại nguồn, máy nghiền cơ học kết hợp lò đốt rác chuyên dụng công nghệ LOSIHO công suất 3-5 tấn/ngày. Công nghệ này cho phép xử lý triệt để rác thải sinh hoạt khó phân hủy, tận dụng nhiệt và giảm thiểu lượng rác phải chôn lấp xuống dưới 15%.

  4. Trở ngại lớn nhất trong công tác xã hội hóa thu gom rác tại các xã của huyện Mỹ Hào là gì? Trở ngại cốt lõi là mức thu phí vệ sinh môi trường quá thấp, chỉ bù đắp được khoảng 10% chi phí vận hành, dẫn đến các tổ thu gom thiếu kinh phí duy trì. Thêm vào đó, 100% cán bộ địa chính xã phải kiêm nhiệm công tác môi trường nên thiếu thời gian và năng lực chuyên môn để tổ chức quản lý chuyên nghiệp.

  5. Kết quả điều tra lượng phát sinh rác tại 90 hộ gia đình cho thấy điều gì về mối quan hệ giữa nghề nghiệp và lượng rác xả thải? Số liệu khảo sát thực tế khẳng định sự phân hóa rõ rệt: các hộ làm nông nghiệp thuần túy xả thải từ 0,20 đến 0,60 kg/người/ngày, trong khi các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, buôn bán hoặc làm nghề tiểu thủ công nghiệp có lượng phát thải từ 1,11 đến 1,78 kg/người/ngày, gấp 3 đến 5 lần hộ nông nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng chính xác lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại huyện Mỹ Hào là khoảng 42,3 tấn/ngày, trong khi tỷ lệ thu gom bình quân toàn huyện mới đạt 68% (tương ứng 29,1 tấn/ngày) với sự chênh lệch lớn giữa đô thị (80%) và nông thôn (51%).
  • Nghiên cứu chỉ rõ cơ cấu thành phần rác thải nông thôn mang tính chất chuyển đổi công nghiệp hóa với 29,0% chất hữu cơ và 17,0% cao su, chất dẻo, túi nilon, đòi hỏi công nghệ xử lý chuyên biệt thay cho hình thức chôn lấp hay đốt tự phát.
  • Công trình đã chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng trong hệ thống quản lý khi 100% cán bộ phụ trách môi trường cấp xã là kiêm nhiệm quản lý đất đai và toàn huyện chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh đạt chuẩn.
  • Đề xuất thành công mô hình thu gom và xử lý thí điểm khép kín tại xã Ngọc Lâm tích hợp phân loại rác, máy nghiền và lò đốt LOSIHO, giúp giảm thiểu trên 85% lượng rác chôn lấp.
  • Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ về tái cấu trúc biểu phí, thành lập Hợp tác xã môi trường và lộ trình đầu tư phương tiện chuyên dùng đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo, chính quyền địa phương cần ưu tiên phê duyệt quy hoạch mặt bằng để triển khai ngay mô hình thí điểm tại xã Ngọc Lâm, đồng thời tổ chức các khóa tập huấn nâng cao nghiệp vụ kỹ thuật môi trường cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp môi trường cần chủ động khai thác các kết quả từ luận văn để đưa các giải pháp vào thực tiễn, góp phần xây dựng huyện Mỹ Hào phát triển bền vững và văn minh.