CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA QUỐC GIA 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 1. Khái niệm Trong thương mại quốc tế, rào cản thương mại được chia ra làm hai loại: hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan. Hàng rào thuế quan Trong lịch sử phát triển của thương mại quốc tế, thuế quan là biện pháp sử dụng phổ biến nhất nhằm hạn chế thương mại giữa các quốc gia.
Đây được xem là công cụ cơ bản của chính phủ, xuất hiện từ thế kỷ XVI dưới thời La Mã cổ đại. Mặc dù, hiện nay, các quốc gia đều có xu hướng hướng tới tự do hóa nhưng không thể nào xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng hàng rào thuế quan để bảo hộ đối với một số hàng hóa hay nhóm hàng hóa nhất định. Thuế quan là tên gọi chung của thuế đánh vào các hàng hóa xuất khẩu (HHXK), nhập khẩu khi đi qua cửa hải quan của một quốc gia nào đó. Thuế quan là nguồn thu cho chính phủ và không có lợi cho người tiêu dùng.
Hàng rào thuế quan được hiểu là các biện pháp, quy định đối với mỗi đơn vị khối lượng hay giá trị hàng hóa khi nó được vận chuyển giữa các lãnh thổ hải quan, được thể hiện dưới dạng thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào hàng hóa khi xuất khẩu ra lãnh thổ hải quan quốc gia sở tại. Thuế xuất khẩu chỉ được sử dụng đối với nhóm ít các hàng hóa mà khi xuất khẩu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc đối với tài nguyên khan hiếm vì việc thu thuế xuất khẩu có tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu cũng như giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước trên thị trường thế giới. Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu với mục đích hạn chế lượng nhập khẩu, bảo vệ nền sản xuất trong nước và cũng tạo thêm nguồn thu cho Chính phủ (Nguyễn Thị Duyên, 2018).
Hiện nay các quốc gia áp dụng phương pháp thương lượng để xây dựng biểu thuế quan. Thực hiện biện pháp giảm và tiến tới xóa bỏ thuế quan. Vai trò của thuế quan trong tạo nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ giảm. Nhưng đối với các nước 8 đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Thuế quan vẫn còn là nguồn thu lớn và tương đối ổn định. Hàng rào phi thuế quan Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất nào về hàng rào phi thuế quan. Mỗi một tổ chức, quốc gia lại có quan niệm khác nhau về hàng rào phi thuế quan. Nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp phi thuế quan được thực hiện bởi Baldwin (Baldwin, 1970) theo thuật ngữ của hàng rào phi thuế quan.
Baldwin cho biết: “Hàng rào phi thuế quan định nghĩa sự bóp méo phi thuế quan là bất kỳ biện pháp nào (công hoặc tư) khiến hàng hóa và dịch vụ thương mại quốc tế được phân bổ theo cách làm giảm thu nhập thực tế tiềm năng”. Sự chênh lệch đã xảy ra do sự khác biệt giữa giá biên giới và giá nội địa. Sự bóp méo thương mại bắt nguồn từ mục đích của chủ nghĩa bảo hộ hoặc các tác động phụ từ việc áp đặt các biện pháp khác. Trong trường hợp bảo hộ ngành sản xuất trong nước bằng cách hạn chế nhu cầu nhập khẩu, các biện pháp này được coi là “rào cản thương mại”.
Tuy nhiên, hiểu hàng rào phi thuế quan là không tuân thủ mục đích tạo thuận lợi thương mại. Do đó, UNCTAD cải tiến một thuật ngữ mới gọi là Các biện pháp phi thuế quan, được định nghĩa là “các biện pháp chính sách, khác với thuế quan thông thường, có thể có tác động kinh tế đối với thương mại hàng hóa quốc tế, thay đổi số lượng giao dịch hoặc giá cả hoặc cả hai” (UNCTAD , 2010). Định nghĩa này tập trung vào tác động kinh tế của các NTMs và nhấn mạnh vào chính sách giám sát của chính phủ. Bên cạnh đó, có nhiều hiểu lầm giữa khái niệm NTMs và NTBs (hàng rào phi thuế quan).
Cho đến nay, thuật ngữ “biện pháp”, thay vì “rào cản” đã trở nên phổ biến hơn trong tài liệu do ý nghĩa rộng rãi về tạo thuận lợi thương mại và chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Một số khái niệm phi thuế quan của các quốc gia: EU cho rằng hàng rào phi thuế quan là tất cả các hoạt động làm hạn chế việc xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài của EU. Trong khi đó, hàng rào phi thuế quan lại được Hoa Kỳ xem như là các biện pháp nhằm bảo vệ sản phẩm trong nước khỏi sự 9 cạnh tranh từ hàng hóa nước ngoài. Canada lại cho rằng hàng rào phi thuế quan bao gồm tất cả các biện pháp nhằm cản trở hoạt động xuất nhâp khẩu.
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD): “Biện pháp phi thuế quan là là các biện pháp chính sách khác với các biện pháp thuế quan thông thường, có thể có tác động kinh tế đối với thương mại hàng hóa quốc tế, thay đổi số lượng giao dịch hoặc giá cả hoặc cả hai. Do đó, việc phân loại chi tiết các biện pháp phi thuế quan là rất quan trọng để phân xác định và phân biệt rõ ràng các hình thức phi thuế quan khác nhau.” Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Không có định nghĩa chính thức về biện pháp phi thuế quan, nhưng nói chung, nó là tất cả những biện pháp nào khác ngoài biện pháp thuế quan nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Nhiều biện pháp phi thuế quan dựa trên mục tiêu chính đáng (chẳng hạn như bảo vệ sức khỏe con người) và có thể được áp dụng theo cách thức nhất quán của WTO. Các hiệp định như là Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật (SPS) và Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) nhằm mục đích cho phép các chính phủ quan tâm đúng mức đến các mục tiêu hợp pháp này đồng thời giảm thiểu các tác động thương mại và tránh sự cám dỗ sử dụng chúng như một chủ nghĩa bảo hộ trá hình.” Theo tổ chức này, các biện pháp phi thuế có thể có hoặc có thể không ảnh hưởng đến hoạt động thương mại bởi vì không phải biện pháp phi thuế nào cũng được sử dụng theo cách phân biệt đối xử hoặc với mục đích hạn chế thương mại hay bảo hộ.
Trong khi đó, Phòng Thương mại Mỹ (USTR) lại quan niệm: “Bảo hộ phi thuế quan là tất cả những quy định được ban hành dưới dạng văn bản luật hoặc những quy định, chính sách hoặc biện pháp khác của nhà nước, ngoài các biện pháp thuế quan với mục đích bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập và thúc đẩy phát triển sản xuất một số ngành kinh tế trọng điểm và kích thích xuất khẩu hoặc vì các mục tiêu kinh tế xã hội khác.” Nói tóm lại, hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là hàng rào do Chính phủ các nước ban hành không liên quan đến biện pháp thuế quan thông thường nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước và có ảnh hưởng lớn đến 10 thương mại hàng hóa quốc tế. Tuy các biện pháp phi thuế quan không áp dụng cho thương mại dịch vụ, song hiện nay, một số biện pháp dịch vụ mà Chính phủ các nước sử dụng để điều chỉnh thương mại dịch vụ cũng có tác động giống như biện pháp phi thuế quan, nhưng tên gọi sẽ khác đi. Đặc điểm của hàng rào phi thuế quan: Các NTBs có nhiều đặc điểm khác nhau. Theo Deardorff và Stern (1998), Các NTBs có 5 đặc điểm cơ bản, bao gồm: - Giảm số lượng nhập khẩu và tăng giá hàng nhập khẩu - Thay đổi độ co giãn của cầu đối với hàng nhập khẩu - Hiệu quả khác nhau của các NTBs theo sự thay đổi của điều kiện thị trường - Sự không chắc chắn trong việc thực hiện các NTBs dẫn đến hạn chế tiềm năng thương mại - Các NTBs mang lại chi phí phúc lợi và chi phí tài nguyên.
Trên thực tế, những các tính năng của NTBs khiến chúng khó kiểm soát và giám sát. Đồng thời, các đặc điểm không chắc chắn của NTBs tạo cơ hội cho các chính phủ và trong nước các ngành công nghiệp để ẩn các hoạt động bảo vệ. Sự hình thành của hàng rào phi thuế quan 1. Mục đích hình thành hàng rào phi thuế quan Trong quá trình hình thành các quốc gia-dân tộc, các quốc gia phải tìm ra cách huy động tiền để tài trợ cho các dự án địa phương và chi trả các khoản chi thường xuyên.
Một trong những cách này là sự ra đời của thuế quan, đặt ra những hạn chế đối với hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, các nước công nghiệp phát triển đã chuyển đổi từ hàng rào thuế quan sang hàng rào phi thuế quan vì họ đã xây dựng các nguồn tài trợ khác. Hầu hết các quốc gia đang phát triển vẫn dựa vào các hàng rào thuế quan như một cách tăng thu nhập để tài trợ cho các dự án quốc gia trong khi điều tiết thương mại quốc tế với các quốc gia khác. Sau đó, các nước công nghiệp phát triển đã chuyển từ hàng rào thuế quan sang phi thuế quan vì một số lý do.
Một lý do là để điều chỉnh thương mại quốc tế, ngay cả khi không có hàng rào thuế quan. Nó miễn cho một số quốc gia phải trả 11 thêm thuế đối với hàng hóa, và thay vào đó, tạo ra các rào cản phi giao thông có ý nghĩa khác. Lý do thứ hai để đưa ra các hàng rào phi thuế quan là để hỗ trợ các ngành công nghiệp yếu kém đã bị ảnh hưởng bởi việc cắt giảm hoặc rút bỏ các hàng rào thuế quan. Lý do cuối cùng là các hàng rào phi thuế quan là con đường để các nhóm lợi ích tác động đến quy định thương mại khi không có thuế quan thương mại.
Sự phát triển của hàng rào phi thuế quan Ngoại trừ trợ cấp và hạn ngạch xuất khẩu, các hàng rào phi thuế quan (NTBs) gần giống với thuế quan. Thuế đối với sản xuất hàng hóa đã được cắt giảm trong tám vòng đàm phán tại WTO và Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Sau khi hạ thuế quan, nguyên tắc bảo hộ đã đòi hỏi sự ra đời của các NTBs mới như hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT). Nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với các sản phẩm an toàn và thân thiện với môi trường cũng đã tác động khiến TBT ngày càng phổ biến.