Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống y tế. Cùng với sự mở rộng quy mô khám chữa bệnh, khối lượng chất thải y tế phát sinh hàng ngày ngày càng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và lan truyền dịch bệnh nguy hiểm. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong chất thải rắn y tế có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải độc hại (chất phóng xạ, hóa chất gây độc tế bào, hóa chất chẩn đoán và điều trị).

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương là cơ sở y tế hạng II tuyến tỉnh, có quy mô 49 khoa phòng, 936 giường bệnh nội trú, lượng bệnh nhân đến khám từ 300 đến 350 lượt/ngày, bệnh nhân điều trị nội trú trung bình khoảng 500 người/ngày cùng đội ngũ cán bộ, công nhân viên gồm 963 người. Khối lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động chuyên môn y tế và sinh hoạt tại bệnh viện rất lớn. Mặc dù bệnh viện đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập về phương tiện lưu chứa, công nghệ xử lý và nhận thức của người bệnh. Do đó, đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
  2. Đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
  3. Khảo sát mức độ hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về tình hình rác thải y tế tại bệnh viện.
  4. Xác định những tồn tại, khó khăn và hạn chế trong công tác kiểm soát chất thải rắn của bệnh viện.
  5. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và các công trình, quy trình xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
  • Phạm vi không gian: Khuôn viên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương (phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 05 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý

Khóa luận xây dựng trên khung phân loại và quản lý chất thải y tế theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về Quy chế quản lý chất thải y tế, phân định chất thải y tế thành 5 nhóm chính:

  • Chất thải lây nhiễm: Chất thải sắc nhọn (loại A), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C), và chất thải giải phẫu (loại D).
  • Chất thải hóa học nguy hại: Dược phẩm quá hạn, chất gây độc tế bào, chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế vỡ; chì, cadimi).
  • Chất thải phóng xạ: Chất thải rắn, lỏng, khí phát sinh từ hoạt động chẩn đoán hình ảnh, xạ trị, xét nghiệm hạt nhân.
  • Bình chứa áp suất: Các bình khí dung, bình O2, CO2 nén dùng một lần hoặc nhiều lần.
  • Chất thải thông thường: Rác thải sinh hoạt từ buồng bệnh, chất thải hành chính, rác thải ngoại cảnh không dính dịch sinh học.

Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ bao gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015);
  • Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
  • Nghị định số 18/2015/NĐ-CP và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ;
  • Quyết định số 2149/QĐ-TTg, Quyết định số 2038/QĐ-TTg, Quyết định số 170/QĐ-TTg, Quyết định số 1788/QĐ-TTg và Chỉ thị số 17/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến quy hoạch và xử lý triệt để chất thải y tế;
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải y tế QCVN 02:2012/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp điều tra nội nghiệp: Thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp, văn bản pháp luật, báo cáo quản lý môi trường từ Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
  2. Phương pháp kế thừa: Tổng hợp các công trình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam và trên thế giới (số liệu WHO, Bộ Y tế).
  3. Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi ý kiến chuyên môn với lãnh đạo Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hải Dương và cán bộ phụ trách khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu hiện trạng công tác quản lý chất thải của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương với 24 cơ sở khám chữa bệnh khác trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
  5. Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh: Tiến hành cân đo thực tế định lượng chất thải phát sinh tại các khoa, phòng vào cuối giờ làm việc buổi chiều mỗi ngày, theo dõi liên tục trong 3 tháng (tháng 1, tháng 2, tháng 3 năm 2015).
  6. Phương pháp lấy mẫu và phân tích khí thải: Đánh giá số liệu quan trắc khí thải lò đốt rác y tế so với giới hạn quy định tại Cột B của QCVN 02:2012/BTNMT.
  7. Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát hiểu biết và nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế và bệnh nhân thông qua phiếu điều tra.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý chất thải y tế trong bối cảnh các bệnh viện tuyến tỉnh đang chịu tải lượng khám chữa bệnh ngày càng tăng. Khẳng định mục đích đánh giá toàn diện chu trình phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương nhằm chỉ ra các hạn chế và đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý khả thi.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Cơ sở khoa học và tác hại: Phân tích nguồn gốc phát sinh và tác động tiêu cực của chất thải rắn y tế tới môi trường không khí (phát sinh khí $CH_4$, $CO_2$, $H_2S$, khói lò đốt), môi trường nước mặt, nước ngầm và nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh trực tiếp cho nhân viên y tế và cộng đồng.
  • Thực trạng trên thế giới và Việt Nam: Khái quát định mức phát thải tại các nước (Anh, Pháp, Mỹ, Na Uy trung bình 3,0 - 3,5 kg/giường/ngày). Tại Việt Nam, lượng phát sinh trung bình toàn quốc là 0,86 kg/giường/ngày (trong đó chất thải nguy hại là 0,14 kg/giường/ngày). Cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, phát sinh 350 - 500 tấn chất thải y tế/ngày (khoảng 45 tấn chất thải nguy hại/ngày).
  • Hiện trạng trên địa bàn tỉnh Hải Dương: Đánh giá tổng hợp 25 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa trong tỉnh:
    • 23/25 bệnh viện đã lập ĐTM hoặc Đề án BVMT;
    • 17/23 bệnh viện chưa lập hồ sơ cấp Giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT;
    • 100% bệnh viện chưa có giấy phép xả thải;
    • 20/25 bệnh viện được trang bị lò đốt Chuwastar (Nhật Bản), nhưng có 04 lò bị hư hỏng (thủng vỏ, hỏng bơm dầu, sập ống khói) và 11/16 lò đốt có khí thải vượt quy chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT;
    • 16/25 bệnh viện đã đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại, nhưng chỉ có 04 bệnh viện thực hiện báo cáo định kỳ.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể địa điểm thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương, thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2014 đến tháng 05/2015. Mô tả chi tiết quy trình cân rác định lượng hàng ngày, các bước thu thập thông tin thứ cấp, kế thừa tài liệu và quy trình phân tích số liệu thống kê môi trường.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Tổng quan cơ sở và các yếu tố phát sinh chất thải

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương tọa lạc tại phường Thanh Bình, diện tích khuôn viên 86.000 $m^2$, tiếp giáp các trục đường Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh, Vũ Hựu. Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện được phân tích chi tiết:

Thành phần chất thải y tế Tỷ lệ (%) Tính chất nguy hại
Chất hữu cơ 52,9 Không
Đất cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,3 Không
Chai nhựa PVC, PE, PP 10,8 Có
Vỏ hộp kim loại 2,9 Không
Chai lọ, xi lanh thủy tinh, ống thuốc thủy tinh 2,3 Có
Bơm kim tiêm, ống tiêm 0,8 Có/Không
Bệnh phẩm sau khi mổ 0,6 Có

2. Khối lượng và cơ cấu phát sinh chất thải

Theo dõi thực tế trong 3 tháng đầu năm 2015 cho thấy lượng rác thải trung bình của bệnh viện là 5.198 kg/tháng (trong đó chất thải nguy hại là 3.384 kg/tháng và chất thải không nguy hại là 1.814 kg/tháng). Bình quân mỗi ngày bệnh viện phát sinh 282 kg rác thải nguy hại.

Bảng tổng hợp lượng rác thải nguy hại theo dõi qua 3 tháng đầu năm 2015 tại các khoa:

Khoa Tháng 1 (kg) Tháng 2 (kg) Tháng 3 (kg) Tổng cộng (kg) Trung bình (kg/tháng)
Khoa Sản 1.360 1.521 1.667 4.548 1.516,0
Khoa Ngoại 576 622 592 1.790 596,6
Khoa Nhi 605 463 512 1.580 526,7
Khoa Nội 267 335 432 1.034 344,7
Khoa Xét nghiệm - X-quang 346 319 235 900 300,0

Trong cơ cấu chất thải rắn y tế nguy hại (thống kê tháng 03/2015):

  • Chất thải lây nhiễm: 2.058,41 kg (chiếm tỷ lệ 59,84%), chủ yếu là bông băng dính máu, dịch sinh học, dây truyền máu.
  • Chất thải sắc nhọn: 1.380,59 kg (chiếm tỷ lệ 40,16%), gồm bơm kim tiêm, lưỡi dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ.
  • Chất thải sinh hoạt và ngoại cảnh: Khoảng 30 $m^3$/tháng.

3. Thực trạng phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển

  • Phân loại: Đã trang bị thùng/túi màu vàng (chất thải lâm sàng, lây nhiễm), màu xanh (chất thải thông thường) và hộp kháng thủng (chất thải sắc nhọn). Tuy nhiên, túi đựng rác chỉ làm bằng nhựa PVC (chưa đạt chuẩn PE/PP theo quy định), không có vạch mức chỉ dẫn giới hạn chứa, biểu tượng cảnh báo chưa chuẩn hóa theo TCVN 6707:2009. Hộp kháng thủng còn thiếu nên vẫn dùng túi nilon đựng tạm thời.
  • Lưu giữ và vận chuyển nội bộ: Mỗi khoa có 02 hộ lý thu gom rác hàng ngày. Xe kéo tay chuyên dụng vận chuyển về nhà chứa rác theo 3 khung giờ cố định (5h00, 11h30, 18h00). Nhà lưu giữ rác có diện tích kho rác lây nhiễm 25 $m^2$ và kho rác thông thường 20 $m^2$. Bệnh viện có 01 lò bảo ôn nhưng chưa có phòng lạnh chuyên dụng lắp máy lạnh/điều hòa và đèn tia cực tím để bảo quản bệnh phẩm, phủ tạng khi lưu giữ kéo dài.
  • Nhân lực phụ trách: Tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn gồm 05 người (01 tổ trưởng, 04 tổ viên) và Ban Quản lý Vệ sinh Môi trường gồm 03 người (01 lái xe, 02 công nhân bốc xếp).

4. Hiện trạng xử lý chất thải rắn

  • Chất thải rắn thông thường: Lượng không tái chế (khoảng 914 kg/tháng) được ký hợp đồng chuyển giao cho Công ty Cổ phần Môi trường APT - Seraphin Hải Dương vận chuyển và xử lý (tần suất 1 lần/ngày theo Hợp đồng số 01/2014 HD-DV). Lượng rác tái chế (khoảng 900 kg/tháng) được thu gom bán cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Nhựa Kiên Giang.
  • Tiệt khuẩn dụng cụ: Áp dụng quy trình hấp ướt (nhiệt độ 110°C - 120°C, thời gian 20 - 40 phút tùy loại đồ vải hay kim loại/thủy tinh) và quy trình hấp khô (150°C trong 150 phút, 160°C trong 2 giờ hoặc 170°C trong 1 giờ).
  • Chất thải nguy hại: Bệnh viện được trang bị 3 lò đốt rác chuyên dụng công suất lớn, xử lý lượng rác đốt được khoảng 107,8 kg/ngày; lượng rác nguy hại không đốt (kim tiêm, bóng đèn huỳnh quang vỡ khoảng 12,5 kg/ngày) được lưu chứa riêng.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Kết quả chính

  1. Thiết lập bộ số liệu định lượng chi tiết: Đề tài đã lượng hóa cụ thể lượng rác thải phát sinh thực tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương với tổng lượng phát sinh trung bình 5.198 kg/tháng, trong đó rác thải nguy hại chiếm 65,1% (3.384 kg/tháng, tương đương 282 kg/ngày).
  2. Xác định sự phân bố phát thải theo khoa phòng: Đã chỉ rõ Khoa Sản có lượng rác nguy hại lớn nhất (1.516 kg/tháng), kế tiếp là Khoa Ngoại (596,6 kg/tháng), Khoa Nhi (526,7 kg/tháng), Khoa Nội (344,7 kg/tháng) và Khoa Xét nghiệm - X-quang (300 kg/tháng).
  3. Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật trong chu trình quản lý:
    • Túi chứa rác y tế làm bằng chất liệu PVC không đúng tiêu chuẩn quy định, thiếu vạch mức định lượng;
    • Thiếu hộp kháng thủng chuyên dụng cho vật sắc nhọn tại các buồng tiêm;
    • Khu vực lưu giữ tạm thời chưa có kho lạnh chuyên dụng để bảo quản chất thải giải phẫu, bệnh phẩm tươi;
    • Bệnh viện thực hiện xử lý chất thải y tế nguy hại cho một số cơ sở y tế khác trên địa bàn nhưng chưa hoàn thiện đầy đủ thủ tục cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại.

Các nhóm giải pháp tác giả đề xuất

  • Biện pháp quản lý nội vi: Kiện toàn quy chế phân loại rác tại nguồn; tăng cường tập huấn cho cán bộ y tế và tuyên truyền qua bảng hướng dẫn cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân.
  • Biện pháp quản lý môi trường: Hoàn thiện hồ sơ xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, đăng ký lại sổ chủ nguồn thải và thực hiện chế độ báo cáo quan trắc định kỳ nghiêm ngặt.
  • Cải tiến phân loại, thu gom và lưu giữ: Thay thế toàn bộ túi nilon PVC bằng túi PE/PP đạt tiêu chuẩn; bổ sung đầy đủ hộp kháng thủng đạt chuẩn TCVN 6707:2009; đầu tư kho lạnh bảo quản rác lây nhiễm dưới 8°C có gắn đèn UV khử trùng.
  • Giải pháp công nghệ xử lý: Định hướng nâng cấp công nghệ xử lý không đốt (như công nghệ hấp ướt tiệt trùng kết hợp nghiền cắt hạt rác thải) nhằm thay thế từng bước công nghệ thiêu đốt, hạn chế phát sinh dioxin/furan và khí độc hại ra môi trường không khí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Thời gian khảo sát và cân đo định lượng thực địa tập trung trong 3 tháng (tháng 1 đến tháng 3 năm 2015), chưa bao quát được toàn bộ biến động lượng chất thải theo mùa dịch bệnh và các giai đoạn biến động công suất khám chữa bệnh trong năm.
  • Số liệu đánh giá chất lượng khí thải lò đốt dựa trên việc tổng hợp kết quả quan trắc kế thừa từ Chi cục Bảo vệ Môi trường, chưa tiến hành lấy mẫu phân tích chuyên sâu đa thời điểm cho từng lò đốt riêng biệt của bệnh viện.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng thời gian theo dõi định lượng phát thải rác y tế xuyên suốt 12 tháng để xây dựng hệ số phát thải chuẩn xác theo từng loại hình giường bệnh chuyên khoa.
  • Nghiên cứu thiết kế kỹ thuật và tính toán bài toán kinh tế - kỹ thuật chi tiết cho phương án chuyển đổi từ lò thiêu đốt sang công nghệ xử lý chất thải rắn y tế không đốt (hấp vi sóng/nồi hấp tiệt khuẩn nhiệt độ cao kết hợp cắt nhỏ) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn và chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Địa chính môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Y tế công cộng tham khảo phương pháp điều tra, tính toán cân đo định lượng rác thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh quy mô lớn.
  • Cán bộ quản lý môi trường bệnh viện: Tham khảo quy trình tiệt khuẩn dụng cụ y tế (hấp ướt, hấp khô) và phương thức tổ chức phân luồng, thu gom rác nội bộ theo đúng khung pháp lý y tế.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Báo cáo cung cấp dữ liệu thực trạng về tỷ lệ hỏng hóc, vượt chuẩn khí thải lò đốt Chuwastar của 25 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hải Dương, phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải y tế tập trung cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh trung bình mỗi tháng và mỗi ngày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương là bao nhiêu?
Trả lời: Theo số liệu điều tra tại bệnh viện, tổng lượng rác thải phát sinh trung bình là 5.198 kg/tháng. Trong đó, chất thải y tế nguy hại là 3.384 kg/tháng (bình quân 282 kg/ngày) và chất thải thông thường là 1.814 kg/tháng.

2. Khoa phòng nào có lượng rác thải y tế nguy hại phát sinh lớn nhất và thấp nhất?
Trả lời: Khoa Sản có lượng chất thải nguy hại phát sinh lớn nhất với trung bình 1.516 kg/tháng (tổng 4.548 kg/3 tháng). Khoa Xét nghiệm - X-quang có lượng phát sinh thấp nhất trong các khoa được khảo sát với 300 kg/tháng (tổng 900 kg/3 tháng).

3. Khóa luận chỉ ra những điểm chưa đạt chuẩn nào trong công cụ thu gom, phân loại rác của bệnh viện?
Trả lời: Túi nilon đựng rác tại bệnh viện được làm bằng nhựa PVC thay vì nhựa PE hoặc PP theo quy định; túi không có vạch định mức cảnh báo "không được đựng quá vạch này" và nhãn cảnh báo nguy hại chưa đúng chuẩn TCVN 6707:2009; đồng thời số lượng hộp cứng kháng thủng đựng kim tiêm còn thiếu.

4. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đang xử lý chất thải rắn thông thường như thế nào?
Trả lời: Rác thông thường không thể tái chế (khoảng 914 kg/tháng) được hợp đồng chuyển giao cho Công ty Cổ phần Môi trường APT - Seraphin Hải Dương thu gom, vận chuyển 1 lần/ngày. Rác thông thường có thể tái chế (khoảng 900 kg/tháng) được lưu giữ và bán cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Nhựa Kiên Giang.

5. Thực trạng hoạt động của hệ thống lò đốt rác Chuwastar tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hải Dương ra sao?
Trả lời: Toàn tỉnh có 20/25 bệnh viện được trang bị lò Chuwastar (Nhật Bản). Tuy nhiên, có 02 bệnh viện không dùng lò mà thuê ngoài, 04 lò đã hư hỏng (thủng vỏ, hỏng bơm dầu, sập ống khói) nhưng vẫn vận hành, và kết quả phân tích cho thấy 11/16 lò đốt được lấy mẫu có thông số khí thải vượt quy chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT (Cột B).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Quang Linh đã phản ánh trung thực, có căn cứ định lượng về hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2014 - 2015. Bằng phương pháp cân đo thực tế kết hợp khảo sát hiện trường, tác giả đã làm rõ cơ cấu phát thải (5.198 kg/tháng với 65,1% là rác nguy hại), phân tích chi tiết sự chênh lệch phát sinh giữa các khoa phòng và chỉ rõ những thiếu sót kỹ thuật trong khâu bao bì, bảo quản và vận hành xử lý. Các giải pháp đề xuất về quản lý nội vi, hoàn thiện thủ tục pháp lý và chuyển đổi sang công nghệ tiệt trùng không đốt có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nâng cao năng lực bảo vệ môi trường tại các bệnh viện tuyến tỉnh.