LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích gần 40 ngàn km2, dân số hơn 18 triệu người, là vùng kinh tế hết sức quan trọng của đất nước, giàu tiềm năng về nhiều mặt, chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và là chìa khoá chính trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Vận tải hàng hóa đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long, tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển đã tăng lên 7.6% trong giai đoạn 2006 – 2011 ( Tổng cục thống kê 2011). Sản lượng lúa chiếm trên 50% (xuất khẩu 95%); sản lượng thủy sản chiếm 65% và 70% sản lượng cây ăn trái cả nước.
Sự phát triển nhanh chóng về khối lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa của khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã và đang đặt ra nhiều thách thức. Cụ thể, hệ thống cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông trong vùng chưa thực sự mang tính kết nối cao, chưa liên hoàn và liên vùng. Đặc biệt, mạng lưới cơ sở hạ tầng còn quá nhiều cản trở cho sự phát triển của hoạt động vận tải hàng hóa. Cụ thể như, Theo quy định quốc tế, trong lượng của hàng hóa và container là 34,480 tấn, thế nhưng, tải trọng của các cây cầu ở ĐBSCL chỉ khoảng 20-25 tấn, thậm chí có những cây cầu rất yếu và tải trọng thấp.
Đây là mặt hạn chế lớn cho các doanh nghiệp ở ĐBSCL khi có nhu cầu vận chuyển hàng hóa đến các nơi khác và ngược lại khi lựa chọn vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ. Bên cạnh đó, ĐBSCL là vùng sông nước với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, nhưng ĐBSCL vẫn chưa tận dụng hết lợi thế giao thông thủy. Tàu lớn không thể ra vào hệ thống cảng biển trên sông Hậu vì các luồng bị bồi lắng nghiêm trọng. Đó là những khó khăn các doanh nghiệp ở ĐBSCL đang phải gánh chịu, đồng thời là một trong những trở ngại lớn khiến nhiều doanh nghiệp lo ngại khi đầu tư vào ĐBSCL.
Theo nhận định của các chuyên gia, hiện tại và trong tương lai hàng hóa vận chuyển ở khu vực ĐBSCL vẫn chủ yếu là hàng rời như: gạo, phân bón, vật liệu xây dựng, xi măng và nông sản. Đây là loại hàng hóa rất phù hợp với vận tải đường thủy. Tuy nhiên, việc vận chuyển hàng hóa bằng các phương tiện có trọng tải nhỏ làm tăng chi phí vận chuyển, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Mặt khác, ĐBSCL hệ thống cảng chủ yếu là các cảng đường thủy nội địa nhỏ.Về số lượng cảng thì nhiều nhưng số lượng cảng có năng lực xếp dỡ lớn lại thấp làm không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa của các tàu có tải trọng lớn.trong xi Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long- thành phố Hồ Chí Minh khi đó,vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy,các chủ hàng thường ưu tiên vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn.
Xuất phát từ các vấn đề trên, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long là rất cần thiết. Cũng chính xuất phát từ lý do này, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long – thành phố Hồ Chí Minh” 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài : Mục tiêu tổng thể: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa vùng đồng bằng song Cửu Long – thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể: Phân tích hiện trạng mạng lưới cơ sở hạ tầng GTVT của vùng đồng bằng song Cửu Long Phân tích hiện trạng vận chuyển một số mặt hàng xuất nhập chính của vùng.
Phân tích tập trung trên các khía cạnh như tuyến đường vận chuyển, thời gian vận chuyển, chi phí vận chuyển, phương tiện sử dụng, hiện trạng kết nối với các phương thức khác. Đánh giá hiệu quả công tác tổ chức vận tải và hoạt động vận chuyển trên các tuyến này. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy nội địa của vùng đồng bằng sông Cửu Long 3. Các nhiệm vụ yêu cầu của đề tài: a/ Phƣơng pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của đề tài được thực hiện thông qua các bước sau: Bước 1: Nghiên cứu của đề tài ( số liệu sẵn có) về mạng lưới giao thông vận tải đồng bằng sông Cửu Long.
Cụ thể như các bản Quy hoạch về GTVT của các tỉnh nằm trong khu vực, các dự án hỗ trợ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long ( do Ngân hàng thế giới tài trợ), các báo cáo liên quan đến đánh giá chất lượng hoạt động dịch vụ vận tải của vùng ( Bộ giao thông vận tải). Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu tại hiện trường về các nội dung như lưu lượng hàng hóa thông qua các hành lang vận tải tài chính từ đồng bằng sông Cửu Long đến thành xii Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long- thành phố Hồ Chí Minh phố Hồ Chí Minh, hiện trạng về phương tiện sử dụng, năng lực thông qua của đường, thời gian, chi phí vận chuyển… Bước 3: Tìm hiểu một số bài học kinh nghiệm liên quan đến tổ chức vận tải hàng hóa của Việt Nam và trên thế giới. Bước 4: Nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiều quả hoạt động vận chuyển và phân phối hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long lên thành phố Hồ Chí Minh b/ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 1/ Đối tƣợng nghiên cứu : Hoạt động vận chuyển hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long lên thành phố Hồ Chí Minh. 2/ Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi về thời gian : thời gian phân tích số liệu từ năm 2008 đến 2010 Phạm vi không gian: Tập trung phân tích hai hành lang điển hình trong vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long lên thành phố Hồ Chí Minh.
Cụ thể hai hành lang : Hành lang 1: TPHCM–Bến Tre–Mỹ Tho–Vĩnh Long (TPHCM–Tiền Giang–Vĩnh Long –Đồng Tháp–An Giang–Cần Thơ–Hậu Giang), Hành lang 2: TPHCM–Tiền Giang–Bến Tre–Trà Vinh–Sóc Trăng–Bạc Liêu CàMau. Lý do chọn hai hành lang này phân tích vì nó chiếm….% khối lượng hàng hóa vận chuyển từ vùng đồng bằng sông Cửu Long len thành phố Hồ Chí Minh. Kết cấu của đề tài: Chƣơng 1: Tổng quan về vận tải hàng hóa hành lang vận tải Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá hoạt động vận tải hàng hóa trên các hành lang từ đồng bằng sông Cửu Long lên thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
xiii Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long- thành phố Hồ Chí Minh CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA VÀ HÀNH LANG VẬN TẢI.1 Tổng quan về vận tải.1 Khái niệm và phân loại vận tải.1 Khái niệm về vận tải Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển,đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hóa). Sự di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi. Tất cả của cải vật chất chủ yếu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài người được tạo ra ở 4 ngành sản xuất vật chất cơ bản: công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến; nông nghiệp và vận tải.
Đối với một ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp… trong quá trình sản xuất đều có sự kết hợp của 3 yếu tố, đó là công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vận tải cũng là một ngành sản xuất vật chất vì trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng có sự kết hợp của 3 yếu tố trên. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lượng vật chất nhất định như: vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải. Hơn nữa, đối tượng lao động (hàng hóa, hành khách vận chuyển) trong quá trình sản xuất vận tải cũng như trải qua sự thay đổi nhất định.
Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí hàng hóa, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.2 Phân loại vận tải Có nhiều cách phân loại vận tải, có thể phân loại theo các tiêu thức sau đây: a. Căn cứ vào phương thức thực hiện quá trình vận tải. - Vận tải đường bộ; - Vận tải thủy nội địa; - Vận tải hàng không; - Vận tải đường bộ; - Vận tải đường sắt; - Vận tải đường ống; 1 Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hàng hóa từ đồng bằng sông Cửu Long- thành phố Hồ Chí Minh - Vận tải trong thành phố (Metro, Trolaybus, Buýt…); - Vận tải đặc biệt b. Căn cứ vào quá trình vận chuyển.
- Vận tải hành khách; - Vận tải hàng hóa. Căn cứ vào cách tổ chức quá trình vận tải. - Vận tải đơn phương thức: hàng hóa hay hành khách được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một phương thức vận tải duy nhất; - Vận tải đa phương thức: việc vận chuyển được thực hiện bằng ít nhất 2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một chứng từ duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó; - Vận tải đứt đoạn: là việc vận chuyển được thực hiện bằng 2 hay nhiều phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều chứng từ vận tải và 2 hay nhiều người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó. Căn cứ vào tính chất vận tải.