phần mở đầu, kết luận, các bang biểu phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chìa ra thành 3 chương : - Chương Ï - Lý luận chung về tài chính và hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp. -Chuong II : Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Cty Quốc doanh Đánh cá Kiên Giang. - Chương IIIL : Các giải pháp nâng cao hiệu qua tai chính. ‘ Wot J NTE AICS NO —~ (Ale hod has ear cere, Ale EEG —- CHUONG | : LY LUAN CHUNG VE TAI CHiNH VA HIEU QUA TAI CHINH TRONG DOANH NGHIEP 1.
TÀI CHÍNH DDANH NGHIỆP 1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp : Ở nước ta, theo luật định, một đơn vị được gọi là doanh nghiệp, khi đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau đây : - Được luật pháp nhà nước thừa nhận về tư cách pháp nhân. - Được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các chức năng hoạt động kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú.
Căn cứ vào phương 2 Lhức tạo ra thu nhập, ta có thể phân chia các doanh nghiệp thành loạt : - Doanh nghiệp tài chính là các don vt chuyên binh doanh tiên (ệ - tín dựng) bao gồm : các ngân hàng Lhương mại, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ đầu tư. - Doanh nghiệp phi tài chính : bao gồm các đơn vị kinh doanh, Ta lấy sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ làm hoạt động chính. , cũng cần chú ý là trong nền kinh tế để nhằm tối đa hóa lợi nhuận đảm bảo an toàn vốn. Các doanh nghiệp phi tài chính, bên cạnh tài hoạt động kinh doanh của chính minh, con eó hoạt động đầu tư chính như góp vốn liên doanh, mua bán cổ phiếu.
Trong phạm vi của luận án, chúng tôi chỉ đề cặp đến hoạt động doanh nghiệp phi tài chính. Đó là một bộ phận quan của những vật trọng trong hệ thống kinh tế cơ sở, là nơi sang tao ra của cải ty, chất và dịch vụ cho nên kinh tế quốc dân bao gâm các tổng công xí nghiệp liên hiệp, công ty, xí nghiệp. thuộc mọi qui rnö của các sản xuất thành phần kinh tế và đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực i thông. oo hee 3v Hol wi geeks Ltt Nim HE A” tae cht nte OF) +4 ee.
Ra đời và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nền kinh tế hàng húóa tiền tệ, các doanh nghiệp đều có đặc điểm chung nổi bật là khi tiến hành hoại. động kinh doanh với bất kỳ qui mô nào đều phải có một khối lượng vốn tiền tệ nhất định. Đây chính là điều kiện tiên quyết để cho doanh nghiệp tổn tại, hoạt động và phát triển. Số vốn Liền tệ đó có thể được tạo lập bởi nhiều nguồn tài chính khác nhau và luôn có sự vận động không ngừng để thực biện yêu cầu kính doanh của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh, sự vận động của vốn tiền tệ được diễn ra rất đa dạng, đó là sự dịch chuyển các luồng giá trị có thể diễn ra trong cùng phạm vi của một doanh nghiệp, hoặc ra ngoải phạm vi của một doanh nghiệp, hoặc làm Lhay đổi hình thái biêu hiện giá trị của một quá trình kinh doanh, Chúng ta có thể khái quát một cách cơ bản sự vận đông vốn tiền tệ của doanh nghiệp qua các sơ đồ sáu : - Đối với đoanh nghiệp sản xuất, dịch vụ : TLSX peu ZO o™ SX - H’-T NG as / - Đối với doanh nghiệp thương mai : T-H-T Cũng cần thấy rằng, chính từ sự van động của vốn Liền tệ trong quá trình kinh doanh đã làm nảy sinh hàng loạt quan hệ kinh tế - đưới hính thức giá trị và chúng đã cấu thành nên bản chất của phạm trù tài chính doanh nghiệp. Cu thé cdc quan hệ kinh tế đó là: - Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước. Mối quan hệ kinh tế này thể hiện : trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước a ~. eS Med an pitt AACA Ee 7F.
tert n6 v22 S an tn tO độc — chính cho các doanh nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của mình. hệ bình tế giữa doanh nghiệp Lới thi truang : Kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đều được thực thi thông qua hệ thống thị trường : thị trường hàng hóa tiêu dùng, thị trường hàng hóa tư liệu sản xuất, thị trường tài chính. và do đó, với tư cách là người kinh doanh, hoạt động cua doanh nghiệp không thể tách rời hoạt động của thị trường. Tham gia vào hoạt động của thi trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tế của hoạt động kinh doanh, người bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; đông thời vừa là người tham gia huy động và mua, bán các nguồn lực tài chính nhàn rỗi của xã hội.
- Quan hệ hinh tế trong nội bộ doanh nghiệp : Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không đơn thuần chỉ phát sinh các mối quan hệ kinh tế với ngân sách nhà nước, thị trường, mà còn phát sinh những mối quan hệ thanh toán, tạm ứng giữa các phòng ban trong doanh nghiệp; quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hòa vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp, với tổng công ty; và những quan hệ về chỉ trả tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, tiền bồi thường giữa doanh nghiệp với người lao động. Nhìn chung, các quan hệ kinh tế nêu trên đã khái quát hóa toàn bộ những khía cạnh về sự vận động vốn tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc trưng của sự vận động vốn tiên Lê là luôn luôn gắn liễển chặt chẽ với quá trình phân phối các nguồn tài chính của doanh nghiệp và xã hội nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiển tệ chuyên dùng của doanh nghiệp phục vu cho quả trình kinh doanh. Tóm lại, từ những phân tích trên ta có thể hiểu tài chính doanh nghiệp trên các khía cạnh sau : - Về mặt hiện tượng - tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động, chuyển dich các luéng giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
me Ất - 1/4 lì gu (Áo. “#u( tư tác L027 at chen v2: cÍ — ~ —- : — >= ¬— - Vệ mặt bản chốt : tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong qua trinh phan phối các nguồn tài chính gắn liễn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp : Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tai khách quan trong nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Sự vận động của nó mật mặt phái tuân theo những qui luật kinh tế khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp là các quan hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu sự chỉ phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chú thể doanh nghiệp.
hưng đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh doanh. Trên góc độ này tài chính doanh nghiệp được xem là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh. Như vậy để phát huy tốt vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, đòi hỏi : - Mói là, người quản lý phải có trình độ nhất định trong việc sử dụng công cụ tài chính doanh nghiệp để tạo nguồn tài chính và tổ chức phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đó. - Hơi là, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước cần hướng vào tạo lập môi trường kinh tế - xã hội sao cho các doanh nghiệp có được những thuận lợi về mặt tài chính.
Nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có sự giao lưu mở cửa với kinh tế nước ngoài và nhà nước Lhực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cho nên tài chính đoanh nghiệp đã được trả về đúng vị trí khách quan và vai trò của nó được đề cao trên các mặt sau đây: 1. Huy động khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất. Do trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung duy trì một cơ chế tài phafpe niag Hal «i guid i coe tee thiah 2 (27, toc €‹ ie sách nhà giữa tài chính nhà nước và lài chính doanh nghiệp. Ngân nước làm thay các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Lài chính nghiệp (nhđ lở khu oực nhà nước) từ huy động nguồn tài doanh chính bên trong và bên ngoài, đến việc trang trai chi phí, thanh rộng, toán nợ nần cũng như việc tích lũy và đâu tư tái sản xuất mở với cơ chế tài chính như vậy, đã xem nhẹ tính tự chịu trách nhiệm tai về tài chính của doanh nghiệp trong việc tị huy động các nguồn chính, do vậy da tao ra khoang cách ngày càng lớn giữa nhu cầu về vốn và khả năng hoàn vốn, giữa nhu cầu đầu Lư và khả năng huy động vốn, hiệu quả đồng vốn giảm sút mạnh.
Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, phạm vì hoạt động giữa tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp đã được phân biệt rành mạch. Tài chính nhà nước không còn là kênh cấp phát và bao cấp toàn bộ nhu cầu về vốn eho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, và do đó vai trò đám bảo nguồn vốn hoạt động kinh doanh của tài chính doanh nghiệp ngày càng đặt ra như một vấn đề có tính cấp bách. Trong nên kinh tế thị trường, trên cơ sở đã hình thành thị trường vốn (một cơ sở hạ tang vé tài chính để giải guyết có hiệu quả nhu cau giao lưu uốn trong nên bình tế) các doanh nghiệp phái biết chủ động khai thác, thu hut co hiệu quả các nguồn tài chính trên thị trường để phục vụ kịp thời và đầy đủ cho yêu cầu kinh doanh, phát triển của mình.