Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH một thành viên Than Mạo Khê – Vinacomin Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH một thành viên Than Mạo Khê – Vinacomin Luận văn thạc sĩ Khoa học 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀVỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp cũng cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh, lượng tiền tệ này gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Và theo quan điểm của kinh tế học hiện đại, khái niệm vốn Luận văn thạc sĩ Khoa học kinh doanh được hiểu như sau: “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Theo đó, vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Số tiền doanh nghiệp thu được phải bù đắp được toàn bộ chi phí và có lãi. Như vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường phải chủ động linh hoạt trong việc khai thác, tạo lập và sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để đem lại hiệu quả cao nhất. Đặc trưng của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có quyền sử dụng đồng vốn một cách linh hoạt nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, để quản lý tốt và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh 11 doanh các doanh nghiệp cần phải nắm bắt được đầy đủ 7 đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh, bao gồm: + Thứ nhất:Vốn được biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực: Đây là đặc trưng rất cơ bản của vốn kinh doanh, vốn là một đại lượng tiền đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, một tài sản có thực. Tài sản có thể mang hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh gọi là tài sản hữu hình: nhà cửa, máy móc thiết bị. Cũng có thể không mang hình thái vật chất cụ thể nhưng xác định được giá trị gọi là tài sản vô hình: quyền sử dụng đất, quyền phát hành,bằng phát minh sáng chế. + Thứ hai:Vốn phải được vận động và sinh lời đạt mục tiêu kinh doanh: Mục đích vận động của vốn là sinh lời.
Do sự vận động, luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác Luận văn thạc sĩ Khoa học nhau trong quá trình sản xuất và lưu thông. Sự vận động liên tục không ngừng của vốn tạo ra quá trình chu chuyển tuần hoàn của vốn. Trong quá trình vận động ấy điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền ứng ra ban đấu, có như thế thì sự vận động của vốn mới tạo ra lợi nhuận - đây chính là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Cách vận động và phương thức vận động của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định.
Trên thực tế có 3 phương thức vận động của vốn, có thể mô tả quá trình vận động của vốn qua các sơ đồ sau: 1. T - T’ (T’>T): là phương thức vận động của vốn trong lĩnh vực đầu tư tài chính. T - H - T’ (T’>T): là phương thức vận động của vốn trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. T - H - SX - H’ - T’ (T’>T): là phương thức vận động của vốn trong lĩnh vực sản xuất.
12 Trong đó: T’ = T + ΔT Trong thực tế, một doanh nghiệp có thể vận dụng một hoặc đồng thời cả 3 phương thức đầu tư trên để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để đạt mức sinh lời cao nhất. + Thứ ba: Vốn phải được tích tụ tập trung thành một lượng nhất định, và phải được sử dụng vào mục đích kinh doanh: Như chúng ta đã biết, doanh nghiệp phải huy động vốn tới một mức độ nhất định nào đó thì mới đủ sức đáp ứng được nhu cầu của dự án đầu tư. Nếu không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn thì hoạt động đầu tư sẽ bị trì trệ, gián đoạn, và đồng thời hiệu quả sử dụng vốn sẽ giảm sút. Điều này đặt ra yêu cầu cho doanh nghiệp là cần phải xây dựng kế hoạch, đề ra các biện pháp để khai thác huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng…để phục vụ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Luận văn thạc sĩ Khoa học + Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian: Nghĩa là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau. Sở dĩ vốn có giá trị về mặt thời gian là do trong nền kinh tế thị trường có sự tồn tại của các nhân tố như: giá cả thị trường, lạm phát, khủng hoảng kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật…Các nhân tố này tồn tại một cách cố hữu tiềm ẩn trong hoạt động kinh tế thị trường. Mặt khác, như ta đã nói ở trên, vốn phải thường xuyên vận động, sinh lời, không được để đồng vốn “chết”.Nên việc ứ đọng vốn, vòng quay vốn thấp luôn là những nhân tố làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.Chính vì vậy mà việc huy động và sử dụng vốn kịp thời, hiệu quả là vấn đề hết sức quan trọng cần phải quan tâm hàng đầu. + Thứ năm: Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt: Cũng như mọi hàng hoá khác nó có giá trị và giá trị sử dụng.Khi sử dụng “hàng hoá” vốn sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn.“Hàng hoá” vốn được mua bán trên thị trường dưới hình thức mua bán “quyền sử dụng vốn” chứ không mua được quyền sở hữu.Giá mua chính là lãi tiền vay mà người vay vốn phải 13 trả cho người cho vay vốn để có quyền sử dụng lượng vốn đó.Vì thế nên nó được coi như một loại “hàng hoá đặc biệt”.
+Thứ Sáu: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Đặc trưng này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu vốn phải được vận động sinh lời. Bởi, vốn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định, gắn với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì đồng vốn đó mới được sử dụng đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm và có khả năng sinh lời. Đồng vốn vô chủ sẽ dẫn tới việc sử dụng vốn lãng phí và kém hiệu quả. + Thứ bảy: Vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn là biểu hiện của những tài sản vô hình.Đặc trưng này giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp để bảo Luận văn thạc sĩ Khoa học toàn và nâng cao hiệu quả sản xuất vốn kinh doanh.
Qua phân tích đặc trưng của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chúng ta nhận thấy rằng đây là những vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách quản lý, nâng cao quản lý và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Phân loại vốn kinh doanh 1.Căn cứ vào phương thức chu chuyển của vốn Theo tiêu chuẩn này, có thể chia vốn kinh doanh thành 2 loại: Vốn cố định và Vốn lưu động. *) Vốn cố định Trong nền kinh tế thị trường, để hình thành các tài sản cố định (TSCĐ) đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là Vốn cố định (VCĐ) của doanh nghiệp. Theo Thông tư số 45/2013/TT- 14 BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài chính, thì TSCĐ là tài sản phải thoả mãn các tiêu chuẩn sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai khi sử dụng nó + Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
+ Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. + Có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên. VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của VCĐ lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô, tính đồng bộ của TSCĐ.Vì vậy, nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ sản xuất cũng như năng lực sản xuất của doanh nghiệp.Do vậy, “Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản Luận văn thạc sĩ Khoa học cố định về mặt thời gian” Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định: Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, VCĐ thực hiện chu chuyển giá trị của nó.
Có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu chu chuyển của VCĐ trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau: + Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh. + VCĐ tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển, điều này là do đặc điểm của TSCĐ có thời gian sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kì sản xuất kinh doanh quyết định. + VCĐ chỉhoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị.